LỜI THỀ


Nhà văn không tạo ra được chứng cứ bản đồ, thư tịch, nhà văn đồng hành với thân phận con người. Cuốn tiểu thuyết này là luận chứng về thân phận người Việt đã sống truyền đời trên quần đảo cát vàng mà hậu thế đặt tên là HOÀNG SA. Cuốn tiểu thuyết này ghi lại lời kể của những sinh linh đã sống, đã chết, đã tồn tại đời đời kiếp kiếp trên Hoàng Sa, những sinh linh gốc Việt. Cương giới Việt ở đây là bằng xương cốt của nhiều thế hệ, vì thế nên cát mới vàng, màu vàng của xương cốt, của hồn vía, tầng tầng lớp lớp xương cốt Việt ở đây đã dẫn đường cho nhà văn tìm đến, để nghe họ kể lại, và ghi ra đây bằng tất cả những gì mà nhà văn cảm được, thấy được, nghe được. Cuốn tiểu thuyết bắt đầu lần theo những dấu chân người Việt cổ đầu tiên đặt lên quần đảo cát vàng, khi ấy quần đảo hoang vu, quần đảo mồ côi mà người Việt đã phát hiện, đã đặt tên, đã đưa hình hài nó vào hình hài Tổ Quốc.

Hoàng đế nước Việt, nhà Lý ra sắc chỉ, nghe những người đi biển bị bão cuốn, sóng dập mà may mắn không chết về kể lại, thì ngoài khơi xa, cách đất liền mấy trăm dặm, có một dải đảo cát vàng, vì xa xôi cách trở mà nước Việt chưa đặt chân tới để đưa vào bản đồ đất nước. Nay ra sắc chỉ giao cho một đội thuyền, cứ nhằm hướng đông mà tới, cắm mốc cương giới, lập ấp, rồi gửi tin tức về đất liền. Đội thuyền giao cho Đội Nhất cầm đầu, lại mang theo 200 người, đội thuyền 10 chiếc, lương thảo mang đủ cho ba tháng, được quyền mang theo mấy nữ nhi phục dịch nấu nướng, khi tới nơi thì theo hướng gió mà khắc dấu vào gỗ, vào ván, vào thân cây thả trôi về đất liền báo tin.

Đội Nhất cho thuyền xuất bến nhằm ngày 1 tháng 11 năm 1011.

Bọn thủy binh hỏi, sao lại chọn ngày ấy, Đội Nhất nói, nhìn trời thấy có một sao sáng đứng cao trên một đám mây, quanh đó có hàng ngàn vì sao khác xúm xít, vui vầy, thấy vận nước tốt, thời tiết tốt, hướng gió tốt thì đi thôi, không hỏi.

Ngoài mấy trăm thủy binh, Đội Nhất chọn được năm nữ nhi cao ráo, mông chắc, vú chắc, tóc dài đen, xem thầy tướng thì nói giống đàn bà này mắn đẻ. Rắp tâm trong đầu Đội Nhất, việc đi khó có ngày trở lại, nên phải chọn được đàn bà tốt, đẻ tốt, ra đấy lập làng, lập ấp, dần dần sinh con đẻ cái, đưa cương giới Việt ra ngoài khơi xa, giữ cương giới Việt bắt đầu từ sinh con đẻ cái, không có đàn bà không có gia đình, không có trẻ con không có làng.

Hoàng đế đích thân ra tận bến sông tiễn chân đoàn thuyền ra khơi. Hoàng đế hỏi Đội Nhất, đội thuyền chuẩn bị như vậy đủ chưa? Đội Nhất bẩm đủ. Hoàng đế nói, biển cả mêng mông, tai họa khó lường, liệu có đi tới nơi an toàn không? Đội Nhất bẩm, xui xẻo lắm cũng phải có một thuyền tới đảo. Hoàng đế nói, ta tin ngươi, tới nơi thì làm sao báo tin? Đội Nhất bẩm, có trời, có nước, có cây có cối thì báo tin được. Hoàng đế nâng một chung rượu, chúc phúc cho Đội Nhất và đoàn thủy binh hanh thông trong chuyến đi xa xôi và nguy hiểm.

Đội Nhất chuẩn bị lương thảo, nước uống, không quên chuẩn bị cả giống cây, không quên chuẩn bị những bó tre chẻ dài thành nẹp, để nếu ai chết thì nẹp tre quanh người thả  trôi về đất liền, không quên mang theo cờ xí, không quên mang theo cả đất sét, mang theo cả vũ khí, sắt thép, vải vóc, không quên mang theo cả thú nuôi, đoàn thuyền như cuộc hành hương chuyển làng.

Đi ngày thứ nhất, đất liền mờ xa, thành Thăng Long mờ xa, những đỉnh núi chỉ còn những hình màu xanh đậm, phía trước thì trùng trùng sóng cả. Đi tới ngày thứ năm thì không còn thấy đâu là bến bờ. Cứ qua một khắc giờ, Đội Nhất lại cho người đánh một hồi trống, một hồi chiêng la, lại thả xuống biển một bó tre khắc ngày khắc tháng khắc năm và khắc cả tên mình cùng thủy binh trên 10 con thuyền.

Năm ả đàn bà suốt ngày lo nấu nướng. Con thuyền của Đội Nhất là to nhất, chắc nhất, thuyền được khoét từ một cây gỗ lớn, cây gỗ mấy chục người ôm mới xuể, sóng to gió lớn mấy cũng không làm vỡ thuyền, nếu bị lật úp, thuyền trở thành cái phao lớn, con người vẫn có thể bám lấy mà sống sót. Năm ả đàn bà ở trên thuyền lớn, nấu nướng, phục dịch, đến giờ ăn thì thả thức ăn vào thúng, cho trôi về những con thuyền lân cận. Đêm, Đội Nhất đi kiểm tra, thấy năm ả đàn bà nằm ườn người bên nhau, ả nào cũng béo tốt, trắng trẻo, xinh xắn, rắn chắc, Đội Nhất mấy lần nuốt nước bọt rồi tự hứa, lúc nào tới đảo thì tự thưởng cho mình và những thủy binh những ả đàn bà kia, giờ thì không phải lúc.

Trong năm ả đàn bà đó có một ả tên là Thắm, họ Lý. Ả này đẹp, mắt sắc, tóc dài, chân dài, ngực nở. Nửa đêm ả mò tới phòng riêng của Đội Nhất. Đội Nhất thấy động vùng dậy tuốt gươm sáng bóng đưa phía trước mặt ngăn chặn bóng đen đang sà tới. Mũi gươm chạm vào bầu vú của ả Thắm.

Ả Thắm nói:

-Chàng định giết em?

Đội Nhất nói:

-Không có chuyện đang đêm lại mò đi như thế, nếu chết không oan.

Ả Thắm cười cười:

-Chàng cứ vậy mà ngủ sao? Em nghe nói, bọn em được chọn để phục vụ chàng, chàng giết bọn em thì còn đàn bà đâu phục vụ.

Đội Nhất đưa gươm vào bao, nói:

-Nàng không nên tới đây.

-Tại sao?

-Chỗ của nàng là ở hầm tàu.

-Không. Chỗ của em là nằm trên bụng chàng. Đàn bà ban đêm phải nằm trên bụng đàn ông mới là đàn bà. Chàng tuyển em lên đây, lại để em nằm vò võ là không đúng.

-Nhưng chưa tới đảo thì không ai được đụng đến các nàng, kể cả ta.

-Chàng tin là sẽ ra tới đảo ư?

-Ta tin.

-Chàng tin là cả đoàn thuyền này sẽ sống sót ư?

-Ta tin, ít nhất cũng sống sót vài người.

-Vài người? Vài người là ai, có em, có chàng chứ?

-Chưa chắc lắm.

-Biết chết sao chàng vẫn đi.

-Lệnh Hoàng đế, không ai được chống lại.

-Lệnh Hoàng đế ban dù biết chết cũng đi ư?

-Đúng vậy. Hoàng đế giao ta dẫn đoàn thuyền ra đảo Cát Vàng, mở rộng cương giới, ai chống lệnh là phạm trọng tội.

-Thế đêm nay em đến với chàng có phạm trọng tội không?

Đội Nhất lúng túng không biết trả lời thế nào.

Lý Thắm sà tới, bước chân của nàng bước tới, váy xống, yếm đào rơi lả tả như lá vàng, cho tới khi tay nàng chạm vào người Đội Nhất thì trên người nàng đã trần truồng, thân thể nàng thơm phức, da nàng ánh sáng, cái mông rắn chắc của nàng bắt đầu trèo lên thân thể Đội Nhất.

-Đêm nay chàng phải ôm em, chàng phải có con với em.

-Tại sao? Đội Nhất hỏi.

-Như chàng nói, chuyến đi chết nhiều hơn sống. Em thế này, chàng thế kia, chết mà không biết về nhau, không nằm được lên nhau, chết thế uổng lắm.

-Phải phải, nàng nói phải. Nhưng sao nàng lại tìm ta mà không tìm người khác?

-Đàn bà biết đàn ông nào cần cho mình. Đàn ông ngu muội hơn, thấy con đàn bà nào cũng như con đàn bà nào.

Đội Nhất cười.

-Đàn bà biết chọn giống. Đàn ông ngu muội biết nằm lên đàn bà mà không cần biết đàn bà thuộc giống tốt hay xấu. Em là giống tốt. Chàng là giống tốt. Em tìm đến chàng.

Đội Nhất đưa bàn tay to lớn, mạnh mẽ nắm chắc lấy bầu vú Lý Thắm, nhay qua nhay về như vặn dây chão thuyền, gật gù:

-Đúng là giống tốt. Nếu ta lên đảo an toàn, nàng sẽ làm vợ ta. Nàng sẽ đẻ con cho ta.

-Như vậy là em không còn đường về đất liền?

-Ra tới đảo, ở đó, sinh con đẻ cái, đảo sẽ là đất liền. Ta sẽ cho nàng sung sướng. Ra tới đảo thì đảo là của Hoàng đế, phải giữ, ai bỏ đi là trọng tội.

Lý Thắm cong cớn người trước mặt Đội Nhất. Đội Nhất kéo khố vứt đi rồi đứng dậy, lao thẳng vào Lý Thắm mạnh mẽ như con voi đực lao vào con voi cái. Con thuyền nghiêng qua bên phải, rồi nghiêng qua bên trái, rồi dập dềnh, bọn thủy binh đang chèo thuyền không hiểu có chuyện gì, hô hoán lên là sắp gặp sóng ngầm. Gần một giờ sau, Đội Nhất vật ngửa ra trên người Lý Thắm thở. Con thuyền lấy lại cân bằng. Lý Thắm gạt từng dòng mồ hôi chảy dài trên tấm lưng to lớn, đen trùi trũi của Đội Nhất khen:

-Giống chàng tốt thật.

Đội Nhất cắn vào tai Lý Thắm:

-Giống nàng cũng tốt, chỗ nào cũng nóng như lửa, e có thể đốt cháy ta thành than.

Lý Thắm nói:

-Nếu còn sống ra tới đảo, chàng hãy cho em làm vợ chàng, vợ nhất.

-Tất nhiên rồi.

-Chàng hãy cho em cai quản cả lũ đàn bà.

-Tất nhiên rồi.

-Nếu đẻ con, em phải là người đẻ con trước.

-Tất nhiên như vậy.

-Nhưng chàng cũng phải ngủ với mấy ả kia chứ? Họ là của chàng. Chàng phải ngủ với họ trước khi trao họ cho kẻ khác?

-Tất nhiên như vậy rồi.

-Đi với chàng, coi như em phó thác mạng sống cho chàng. Chàng không được bỏ rơi em.

-Hẳn rồi.

-Nhưng ở đảo ấy toàn cát. Lấy chi sống?

-Cá dưới biển.

-Rồi áo quần, rồi nhà cửa, rồi nhiều thứ nữa, lấy ở đâu?

-Không biết.

-Rồi đẻ đái, rồi đau ốm, làm sao?

-Không biết.

-Sao chàng phó thác mạng sống của mình vào cái nơi nguy hiểm như thế?

-Lệnh Hoàng đế giao ta đi mở cõi, từ chối là phạm trọng tội, tìm được đảo,  nước Việt thêm đất, cõi nước Việt thêm rộng, cương giới nước Việt thêm xa, mệnh nước vì thế sẽ thêm mạnh. Không nói nữa, về đi.

Lý Thắm mang váy xống, thắt yếm rồi về.

Đúng lúc Lý Thắm thắt xong dây yếm cuối cùng thì biển nổi sóng, gió thổi, mưa tạt, trời đất tối đen mù mịt. Tiếng la hét. Tiếng chiêng trống báo động. Đội Nhất đẩy Lý Thắm vào sâu trong góc phòng rồi lao lên mặt thuyền.

Biển đầy ánh chớp.

Những ánh chớp như những lưỡi kiếm tử thần sáng chói, sắc ngọt chém xa xả xuống không trung.

Quanh đấy, đoàn thuyền bị biển nuốt chửng, mù mịt trong sóng lớn, những con sóng lừng lững lao tới, đẩy cả đoàn thuyền lên rất cao, chới với rồi đột ngột đè dúi xuống.

Đội Nhất cố tìm trong bạt ngàn sóng cả đoàn thuyền của mình. Chỉ nghe tiếng va đập của sóng biển. Chỉ nghe tiếng ván gỗ gãy răng rắc. Chỉ nghe những tiếng kêu cứu dậy vang khắp bốn phương tám hướng. Chỉ nghe tiếng gió hùi hụi quất tơi tả vào mặt, xé nát cánh buồm, bẻ gãy cả chân chèo.

Bão biển bất ngờ, không nằm trong quy luật, không nằm trong kinh nghiệm đi biển dạn dày của Đội Nhất.

Hay là ý trời? Thêm một hòn đảo cho nước Việt là phải đổi mạng sống của hàng trăm thủy binh chăng?

Lý Thắm bò lên, níu lấy chân Đội Nhất la lớn:

-Có sống được không?

-Sống.

-Các thuyền khác sống được không?

-Không.

-Sao biết chết vẫn đi?

-Không đi là phạm trọng tội. Xuống dưới kia.

Con thuyền lớn của Đội Nhất tơi tả, nằm xoài trên biển mất hết phương hướng, mất hết sức lực. Mấy chục thủy binh sau mấy giờ chống chọi với bão biển, tất cả đều bị hất xuống biển, còn lại Đội Nhất và hai thủy binh nữa sống sót. Cho kiểm tra mấy ả đàn bà thì cả bốn ả đàn bà cũng bị hất xuống biển. Chín con thuyền nhỏ đi kèm cũng mất hút giữa biển khơi.

Đội Nhất đứng trơ trơ nhìn bốn chung quanh, sống lưng thấy lạnh.

Đột ngột, con thuyền như vấp phải cái gì đó, đứng khựng.

Mờ sáng. Mở òa trước mắt Đội Nhất là dải cát vàng, ánh lên trong nắng.

Đội Nhất muốn reo lên vì đã tới nơi nhưng tiếng reo của ông bị chẹn lại bởi một nỗi đau: gần 200 thủy binh và 4 ả đàn bà mất tích.

Đội Nhất cầm tay Lý Thắm bước lên đảo. Cạnh ông là hai thủy binh sống sót.

Đích đã tới. Đảo đã có. Nhưng nhìn qua nhìn lại chỉ còn ba thằng đàn ông và một ả đàn bà trên dải cát vàng vắng ngơ vắng ngắt.

Đội Nhất không còn vẻ của một dũng binh khí phách. Vàng ngợp lên trước mặt họ là những dải cát chạy lô xô, lúc phình ra, lúc thắt lại và cảm giác như là không phải chỉ có một hòn đảo, mà trùng điệp kéo nhau đến ngút tầm mắt.

Hoang vắng.

Gió thổi xô cát lăn lào xào dưới chân. Xa lắm, tít tầm mắt có những chỏm cây, lá không xanh mà màu bàng bạc. Tiếng sóng biển nghe quá lớn, cộng với tiếng gió rít, cộng với không gian quá hoang vu, khiến cả nhóm níu lại bên nhau, không ai dám di chuyển. Ngó về phía đất liền, chỉ còn những áng mây trắng đùn lên cuồn cuộn trôi, ngỡ như đang đứng trên chót vót mây trời. Ngó bốn bề biển xanh ngắt, ngỡ như đang lọt thỏm giữa một vũ trụ nước.

Hai thủy binh còn sống sót quay đầu qua lại, mặt xanh, môi tái, đôi mắt vằn lên nỗi sợ hãi và vô vọng.

Lý Thắm mếu máo:

-Đây là đâu hở trời?

Không ai trả lời. Đội Nhất cầm trên tay mảnh ván thuyền, im lặng nhìn đất, nhìn cát, nhìn trời, nhìn biển.

Lý Thắm gào lên với Đội Nhất, mắt nàng đẫm nước:

-Chàng nói đi chứ? Sao tất cả đều câm lặng? Đây là đâu?

Đội Nhất nói từng tiếng rõ ràng:

-Đất của nước Việt.

Lý Thắm như không hiểu, vẫn hỏi:

-Vùng đất chết? Hòn đảo chết? Đất hoang, đảo hoang, ta đã tới đâu đây? Nói đi, chàng nói thật với em đi, đây là đâu?

Đội Nhất cắm phập miếng ván thuyền xuống cát:

-Đây là  nước Việt mình. Cương giới nước Việt mình kéo ra tới đây. Mảnh ván này là mốc giới, cắm mảnh ván này xuống, treo lên đó thẻ bài Hoàng đế, đây là đất của mình.

Rồi trong khi mọi người đang ngơ ngác, Đội Nhất quỳ xuống, ngửa mặt lên trời cao, nước mắt đầm đìa:

-Lạy trời cao… Lạy đất dày… Hoàng đế vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế, Đội Nhất tôi đã đưa anh em ra tận đảo cát vàng này, cắm mốc cương giới tại đảo cát vàng, chết gần 200 thủy binh, mất 10 thuyền lớn, còn 4 mạng người, nhưng đã tới đảo cát vàng, đã hoàn thành sứ mạng. Đội Nhất tôi ơn tổ tiên đã cho hoàn thành công vụ. Có thể trên đảo không có nước, không có cái ăn, rồi lũ bọn tôi cũng chết, nhưng cương giới nước nhà đã được khẳng định, mốc giới đã được lưu giữ, xin đa tạ thánh thần, tổ tiên nước Việt, bọn tôi chết cũng không thấy hổ thẹn.

Lý Thắm ngồi khóc. Đội Nhất sai hai thủy binh sống sót cùng mình dùng kiếm khắc chữ lên mốc giới, rồi lại dùng kiếm khắc chữ lên những mảnh ván khác, khắc họ tên, khắc ngày tháng tới đảo cát vàng và cứ thế thả trên biển để sóng biển đẩy ván thuyền vào bờ báo tin cho Hoàng đế.

Đội Nhất bước tới Lý Thắm:

-Sao nàng khóc. Nàng phải mừng vì ta đã hoàn thành công vụ, sao nàng khóc?

Lý Thắm cay đắng:

-Có cái gì ở đảo hoang này mà cương giới?

-Nó là phên dậu. Nhà không có hàng rào, kẻ cướp vào phá. Nước không có phên dậu, kẻ thù rình rập xâm lược. Đảo là phên dậu. Phên dậu rơi vào tay kẻ thù, nước nhà thậm nguy. Ai để cho phên dậu rơi vào tay kẻ thù, kẻ đó phạm trọng tội với tổ tiên, với hoàng đế, với đời đời con cháu.

Hai thủy binh rụt rè:

-Thưa Ngài. Giờ ta về?

Lý Thắm bò tới:

-Đúng rồi, chàng đã hoàn thành công vụ, giờ ta sửa chữa thuyền bè quay vào đất liền, có khi lại được trọng thưởng.

Đội Nhất khoát tay:

-Đặt chân tới đâu, lập làng ở đó.

Mọi người nhao nhao:

-Thưa Ngài, lập làng là sao? Làng ở đâu? Người ở đâu?

-Ba thằng đàn ông, một con đàn bà như em, lấy đâu ra người nữa để lập làng, lập ấp? Chàng nói gì thế?

Đội Nhất khoan thai:

-Tìm ra được đảo này là tìm thêm cho nước Việt đất đai, mở rộng bờ cõi. Tìm được thì phải giữ. Một người cũng giữ. Hai người cũng giữ. Ba người cũng giữ. Rồi Hoàng đế sẽ nhận được tin ta gửi về, sẽ cho người ra tiếp, giữ lấy đảo này. Giờ ta đã có đủ rồi, đàn ông, đàn bà đủ rồi, có đàn ông có đàn bà là có gia đình rồi, là sinh con đẻ cái được rồi, cớ gì không thành ấp, thành làng?

Hai thủy binh nhìn Lý Thắm, Lý Thắm nhìn Đội Nhất, Đội nhất vốc lên nắm cát nhìn chăm chăm và nói tiếp:

-Cát này chắc không trồng được cây cối nhưng biển bao quanh đảo cho ta nhiều thứ để sống, để tìm kiếm nhiều sản vật quý dâng lên Hoàng đế. Không có gì dựng nhà dựng cửa thì đào hốc, khoét hang mà sống. Ra tới đây thì sống ở đây, lập làng lập ấp, là gây dựng cơ nghiệp ở đây, không bàn tới bàn lui chi nữa. Ai cứ nằng nặc đòi về là phạm trọng tội. Ta không giết thì Hoàng đế cũng giết.

Lý Thắm mỉa mai:

-Mà ở lại thì cũng chẳng ai trọng thưởng.

Đội Nhất:

-Ngày xưa tổ tiên mở cõi, ai trọng thưởng?

Lý Thắm nói nghẹn:

-Ngày xưa mở cõi, hàng ngàn, hàng vạn người, giờ thì nhìn đi, sống sót còn từng này…

Đội Nhất nắm lấy tay Lý Thắm:

-Chúng ta có ít người, nhưng đủ đàn ông đàn bà, thế là trời đã có ý cho lập làng rồi. Vui lên. Không ai bàn xuôi ngược chi nữa. Vui lên.

Đội Nhất và hai thủy binh nhặt nhạnh những xác thuyền dạt vào bờ, dựng vội lên ba túp lều. Lý Thắm hỏi, sao bốn người mà ba túp lều?

Đội Nhất lau mồ hôi trên mặt:

-Nàng ở với ta. Nàng là chủ nhân của cả ba cái lều. Đêm đêm, nàng phải đến cả ba lều, ta cần nàng đẻ con, càng sớm càng tốt, nàng hiểu ý ta chứ. Ta hứa sẽ cho nàng sung sướng, không cực đâu, đảo này sẽ nuôi ta, không cực đâu, dưới bãi san hô kia, thềm biển kia nhiều sản vật quý giá lắm, không cực đâu.

Đội Nhất đào hố chôn cọc làm lều nhưng vội dừng tay. Mọi người xúm lại. Đội Nhất bới lên một bộ xương, rồi dưới đó còn mấy bộ xương người nữa, bộ xương trong cát, xương trắng, sạch sẽ. Đội Nhất nhìn cái miếng bạc đeo trên cổ bộ xương người rồi ngồi lặng đi. Rồi Đội Nhất đứng lên, chạy bời bời trên cát, nhìn xuôi nhìn ngược và đột ngột quỳ xuống bên một trụ gỗ đã gãy mục, hai tay ôm cứng lấy khúc gỗ mục, cảm động:

-Các người xem này, các người xem này…

Một thủy binh nói:

-Trông như thẻ bài cương giới của Hoàng đế nhà Đinh.

-Đúng đúng- Đội Nhất gật gù.

-Vậy là Hoàng đế nhà Đinh đã phát hiện ra đảo cát vàng, đã cho thủy binh ra tới đây cắm mốc giới?

-Đúng đúng. Ta không phải là người đầu tiên.

-Có thể đảo này đã thành đất đai nước Việt từ mấy trăm năm trước nữa.

-Đúng đúng. Khắc chữ báo tin. Khắc chữ báo tin. Khắc chữ lên ván thuyền, lên cột gỗ thả biển báo tin cho Hoàng đế.

-Có thể ngày đó, những thủy binh nhà Đinh cũng khắc gỗ báo tin cho Hoàng đế nhưng đường xa, biển rộng, mãi mãi những cột gỗ khắc chữ báo tin ấy không bao giờ tới được tay Hoàng đế…

-Đúng đúng. Nhưng từ đó, đảo này đã thuộc đất đai nước Việt.

-Rồi họ cũng như ta, chờ đợi, giữ đảo, lại chờ đợi và chết như thế này..

-Đúng…đú…ng- Tiếng Đội Nhất bất ngờ nghẹn lại.

Lý Thắm khóc.

Hai thủy binh khóc.

Đội Nhất mân mê cột mốc, im lặng.

-Đành thế. Phận tôi tớ, sống chết là theo ý trời, theo Hoàng đế. Các bậc tiên đế ra đảo cắm mốc, chết, họ có kêu ca chi. Nên ta và các ngươi cũng thế, không kêu ca…

Lý Thắm đang ngồi khóc chợt bổ sấp xuống hét lên một tiếng.

Một con ốc biển to lớn, nằm im trong cát, nay cựa mình bò lên, hất cả người Lý Thắm ngả sấp.

Đội Nhất vui sướng:

-Ta nói đúng mà, ta nói đúng mà… Ốc biển đấy, ốc biển khổng lồ chưa… một con ốc biển nuôi sống chúng ta cả nửa tháng đấy, làm thịt đi, ta đang đói, các người cũng đang đói phải không?

Hai thủy binh dùng mấy hòn đá cuội kỳ cạch lấy lửa.

Đội Nhất nhìn đống lửa cháy, nói:

-Từ giờ, ta giao cho nàng phải giữ lửa.

Lý Thắm im lặng.

Con ốc nhanh chóng được xẻ thịt. Thịt được xiên vào từng que gỗ nướng lên lửa, mùi thơm ngào ngạt.

Một thủy binh bưng tới một cái vỏ ốc lớn, trong đó đựng đầy nước mưa.

Bữa ăn dọn ra. Đội Nhất ngắm nghía từng gương mặt gật gù:

-Vậy là như một gia đình.

Lý Thắm lau nước mắt, thở dài.

Đêm xuống.

Đống lửa vẫn âm ỉ cháy.

Ba ngôi lều nằm ở ba hướng đống lửa.

Lý Thắm thấy Đội Nhất đang hì hục dùng tay đào cái hố trong lều.

-Chàng làm gì vậy, trông như đào huyệt mộ?

-Làm gì có huyệt mộ, ta đang làm chỗ ngủ cho ta và nàng

-Chỗ ngủ? Trông như huyệt?

-Nàng nằm xuống thử đi, nằm trên cát, êm như trên nhung lụa, mát mẻ, nàng nằm xuống đi.

-Rồi toàn thân dính cát?

-Đúng thế. Toàn thân dính cát.

Đội Nhất kéo tay Lý Thắm, nàng ngả sấp xuống trên người Đội Nhất, cát hai bên miệng hố cũng rơi theo, dính bết cả hai người.

Lý Thắm không còn hứng thứ gì, nàng suốt ngày âm u trong những ý nghĩ mù mịt về cuộc sống, đầy sự thất vọng và đau khổ. Nhưng Đội Nhất thì khác, thường trực một ý nghĩ cần phải có con nít trên đảo để lập làng. Có tiếng con nít khóc là có làng. Đội Nhất kéo tuột Lý Thắm vào người mình, mạnh mẽ và dứt khoát, đưa nàng vào cuộc tình dữ dội như đốt lửa. Những tiếng thình thịch dội vang sang cả hai lều cạnh đó làm hai thủy binh cũng phải vùng dậy. Cát phủ lên người Đội Nhất, phủ lên người Lý Thắm, Lý Thắm kêu thét lên từng chập vì đau đớn, vì Đội Nhất lùa cả vào nàng những dòng cát sắc cạnh, rát buốt. Kệ, Đội Nhất như con cá voi, giày xéo, vật vã Lý Thắm lúc ngửa, lúc sấp, lúc đứng, lúc ngồi, cát cứ theo cuộc tình vào sâu hút trong tận cùng của Lý Thắm.

Đội Nhất vừa thở vừa dằn Lý Thắm xuống vừa hỏi:

-Mấy tháng đẻ?

-Chín tháng mười ngày

-Tầm bậy. Ai nói?

-Ông bà nói.

-Tầm bậy. Nhanh lên, đẻ nhanh lên.

Hai thủy binh không chịu được, lồm cồm bò qua lều Đội Nhất.

Rồi cũng không chịu được, họ lao vào, giật Lý Thắm lên tay mình, lôi xềnh xệch Lý Thắm về lều của mình.

Đội Nhất nói to:

-Cố lên anh em. Giống nàng tốt lắm. Nàng phải đẻ con.

Lý Thắm như thành điên. Nàng lao bổ vào người này, rồi lại lao bổ vào người khác.

Suốt đêm, bàn chân của Lý Thắm chạy từ lều này sang lều khác, dấu chân nhằng nhịt trên cát.

Cho tới khi mặt trời ửng hồng, nàng mệt lử, nằm vắt qua người một thủy binh.

Đội Nhất đứng ngắm hai người, gật gù đắc ý.

Hình như đâu đó, xa lắm, giữa vần vụ trời đất mệnh mông, oe oe vọng về tiếng trẻ con khóc.

Đội Nhất đưa tay lau nước mắt.

Đội Nhất mang tới  một vỏ ốc rất lớn, đặt vào tay Lý Thắm:

-Hàng ngày, ta giao nàng hai việc, giữ lửa và tích nước.

Lý Thắm ngắm nghía vỏ ốc lớn, gương mặt rạng rỡ:

-Em sẽ đi tìm các vỏ ốc này để tích nước mưa.

-Đúng thế. Nhưng nàng đừng đi xa, đảo hoang vắng, nhiều bí hiểm, đi xa dễ lạc. Hôm nay ta và hai tên thủy binh sẽ bắt đầu thám sát hòn đảo này. Khi cần thì gọi ta.

Lý Thắm hỏi:

-Chàng đi xa, gọi làm sao nghe?

-Gọi bằng cái này- Đội Nhất đưa tiếp cho Lý Thắm một cái vỏ ốc bé hơn, đầu ốc đã được khoét một lỗ nhỏ, đưa lên miệng thổi, vỏ ốc vang lên tiếng hú vang to như tiếng voi rừng-Nàng chỉ cần thổi vỏ ốc này là ta nghe được.

Lý Thắm ranh mãnh:

-Ngay cả khi em cần chàng ôm ấp cũng thổi vỏ ốc này sao?

-Đúng thế.

Đội Nhất vẫy tay, hai thủy binh đi theo, cả ba vượt mấy quả đồi cát rồi mất hút.

Lý Thắm ngắm nhìn cái vỏ ốc to lớn trên tay mình, đoạn, nàng đặt vỏ ốc ngay ngắn trên cát, miệng vỏ ốc hướng lên trời cao.

Rồi nàng tha thẩn đi dọc bờ biển, dọc các triền cát, tha về vô số những vỏ ốc khổng lồ, và cứ thế xếp bên nhau thành hàng thành lối.

Nàng đứng nhìn công trình của mình, thỏa mãn.

Gió ở phía tây thổi mạnh.

Lý Thắm ngây ngất trong âm thanh rất lạ, âm thanh lúc thì véo von, lúc thì trầm bổng, lúc lại gầm lên mạnh mẽ như tiếng voi, tiếng hổ, lúc mơn man nhè nhẹ như tiếng róc rách của suối ngàn. Mới đầu Lý Thắm ngạc nhiên trước những hợp âm kỳ lạ và lôi cuốn ấy, sau rồi nàng nhận ra rằng, gió thổi qua hàng trăm cái miệng vỏ ốc, phát ra âm thanh. Nàng mê mẩn lắng nghe. Nàng thụp xuống bên những vỏ ốc, áp tai gần hơn, nghe rõ hơn hợp âm của gió, của biển, của sự va đập thanh âm vào thành vỏ ốc lớn, những âm thanh ấy nàng chưa nghe thấy bao giờ.

Nàng chạy xa hơn, thật xa, và thật kỳ lạ, càng chạy xa, âm thanh gió thổi qua miệng vỏ ốc càng lớn, càng tha thiết, réo rắt, cứ như nàng đang cùng Hoàng đế đứng trước cả một dàn kèn đồng của Hoàng cung tấu nhạc lễ.

Nhưng chính âm thanh ngân nga từ hàng trăm vỏ ốc, làm nàng nhớ quay quắt tiếng sáo đồng quê. Nàng đứng sững, nhìn xa lắm về phía đất liền, nước mắt rơi lả tả. Cuối chân trời hướng quê nhà, một đám mây trắng ửng hồng trong ánh nắng, đám mây như hình mẹ nàng đang đứng bên bờ ruộng mong ngóng con gái; đám mây như cái nón lá nghiêng nghiêng, che che trên mái tóc bạc già nua của mẹ; đám mây vươn cao hơn chút nữa, như hình bàn tay mẹ đang vẫy nàng; đám mây chảy dài mềm mại như cánh võng mà hồi bé thơ nàng vẫn nằm ru dưới bóng tre làng; đám mây co lại, chụm lại, hồng chín, như môi nàng hồng chín lần đầu trao cho người trai quê bên hàng dâm bụt trong đêm trăng rằm vào tuổi nàng mười sáu. Nàng đứng ngẩn ngơ nhìn, gương mặt chan chứa nước mắt.

Nàng thấy cô đơn quá. Bốn phía vắng vẻ. Ngoài âm thanh lúc khoan lúc nhặt từ hàng trăm miệng vỏ ốc phát ra, ngoài tiếng sóng biển trễ nải đang vỗ bờ, ngoài tiếng cát bay lào xào không mệt mỏi, nàng chỉ còn một mình, trong vắng vẻ, trong hoang vu, trong nỗi cô độc xát mạnh vào tâm can, vào mắt, vào ruột gan.

Mấy lần nàng định đưa cái vỏ ốc bé lên miệng thổi để gọi Đội Nhất nhưng nàng lại thôi.

Nàng đi tha thẩn, bàn chân bé nhỏ kéo rê trong cát.

Bất ngờ bàn chân nàng chạm phải vật gì đó. Nàng cúi xuống, bới cát lên. Nàng reo òa. Quá nhiều ngọc ngà châu báu, ở đâu quấn quýt trong cát, ở đâu dạt vào bờ đảo, dâng lên trước mắt nàng cả một khối của cải mà chắc chắn cả đời nàng cũng không bao giờ nhìn thấy. Nàng vốc lên trên tay những sợi dây vàng, những vật trang sức bằng ngọc, cả những hộp thiếc đựng đầy trang sức. Nàng nhìn quanh, những mảnh ván thuyền tấp đầy trên cát. Nàng biết có thể đây là một con thuyền buôn bị bão tố. Nàng tỉ mẩn đào, nhặt, chất lên trước mặt quá nhiều đồ vật quý giá. Nàng vui thích đeo lên tay, lên cổ, quấn quanh chân mình những sợi vàng, chuỗi ngọc và ngắm mình như ngắm một công chúa giàu có.

Nàng còn tìm thấy vô số những súc vải lụa đẹp mê hồn, những súc vải dù bên ngoài đã mục nát, nhưng gần trong lõi của nó, vẫn còn nhiều mảnh vẹn nguyên, đủ màu sắc.

Nàng hứng thú nâng con ốc lên, hướng về bốn phương tám hướng của đảo, thổi thật lớn, gọi Đội Nhất trở về.

Lý Thắm trang trí cho căn lều của mình và Đội Nhất như trang trí Hoàng cung. Những mảnh lụa đủ màu được che chắn, được treo, được trải bốn quanh lều. Những vòng vàng, vòng ngọc cũng được nàng thả dọc lối đi. Nàng ngắm nghía căn lều chất đầy của nả. Bỗng dưng nàng trở thành chủ nhân của một núi tài sản mà Hoàng đế nhìn thấy cũng phải ngạc nhiên sửng sốt.

Vào đúng lúc ấy, nàng chợt nhìn thấy cầu vồng vắt chéo qua một góc đảo, những đường cong sặc sỡ hiện lên giữa nền trời, chiếu ánh sáng ngũ sắc xuống màu vàng mơ của cát. Nàng sững sờ nhìn ngắm bầu trời. Từ phía cầu vồng đi tới là Đội Nhất và hai thủy binh.

Đội Nhất hết nhìn Lý Thắm lại nhìn căn lều được trang trí như hoàng cung, lại nâng lên ngắm nghía những vật trang sức quý, lại nhìn dọc bãi biển, mắt Đội Nhất ánh lên niềm hứng khởi:

-Hoàng đế vạn tuế… Người đã đúng khi sai ta ra đảo cát vàng này. Hóa ra đảo giàu có, đảo chất đầy vàng bạc ngọc ngà… Hoàng đế vạn tuế.

Lý Thắm đột nhiên nặng lời:

-Của em hết đó, đâu phải của Hoàng đế. Em giờ giàu nhất. Em là công chúa. Của cải này trong kia, dù có là Hoàng đế cũng không thể kiếm được.

Đội Nhất nhìn hai thủy binh:

-Các người còn đứng đó nhìn sao? Hãy kiếm những mảnh ván tốt, đóng thành hòm, chất của cải này vào, đợi ngày dâng nộp cho Hoàng đế nước Việt.

Lý Thắm xô tới:

-Của em mà, em nhặt được.

Đội Nhất:

-Nàng nhặt được, Hoàng đế sẽ ghi công nàng. Nhưng của cải này thuộc về quốc gia, nàng hiểu không?

-Rồi tới khi ta chết cả, quốc gia có cứu được ta không?

-Cái chết của chúng ta cũng thuộc về quốc gia.

Lý Thắm phụng phịu. Hai thủy binh đã đóng xong hòm gỗ. Của cải được chất vào đấy, dùng những sợi dây thép vương vãi trên cát buộc chặt.

-Ai xin giữ? Đội Nhất hỏi

Lý Thắm nhanh nhảu:

-Em giữ được không?

Đội Nhất gật đầu:

-Là đàn bà, giữ nước, giữ lửa, giữ của cải. Được.

Hai thủy binh mang hòm của cải vào trong lều của Đội Nhất.

Lý Thắm hỏi:

-Chàng vừa đi đâu về?

Đội Nhất nói:

-Cuối đảo kia có người.

-Có người? Ai? Người nước nào?

-12 người đàn ông người nước Việt.

-Sao lại là người nước Việt?

-Họ đã sống ở đây nhiều năm. Trước, nhiều người, nay chết cả, còn 12 đàn ông. Họ là dân chài lưới, bị bão tố đánh thuyền dạt vào đảo.

Lý Thắm vui mừng:

-Ôi trời ơi, thế là thêm người mà chưa cần em phải đẻ.

-Đúng vậy. Trên đảo giờ đã có 15 đàn ông.

Lý Thắm lo lắng:

-Cứ như thế, em chịu sao được, 15 đàn ông?

-Đúng vậy. Nàng sẽ không chịu được.

-Vậy giờ làm sao?

Đội Nhất cầm lên mấy miếng ván:

-Phải khắc chữ gửi thư vào cho đất liền, gửi lời khẩn cầu cho Hoàng đế xin cứu viện.

-Cứu viện?

-Đúng vậy. Ta nghĩ kỹ rồi. Cần phải xin Hoàng đế cứu viện.

-Cứu viện gì? Lý Thắm ngạc nhiên- Cứu viện vũ khí, lương thực? Cứu viện thuyền bè, chài lưới? Cứu viện cây trồng?

-Không. Không cần cứu viện những thứ đó.

Lý Thắm nhìn Đội Nhất không hiểu.

Đội Nhất ngắm nghía mấy mảnh ván, nói:

-Xin Hoàng đế cứu viện thêm đàn bà.

Lý Thắm suýt kêu thành tiếng vì bất ngờ.

Một thủy binh nói:

-Vậy là ngài đã yên tâm, nếu Hoàng đế chấp nhận cứu viện thêm đàn bà, sẽ không lâu nữa, đảo đầy trẻ con.

-Đúng vậy- Đội Nhất gật gù.

-Ngài tin Hoàng đế sẽ chấp nhận lời cứu viện này chứ?

-Đúng vậy.

Lý Thắm chen tới:

-Nhưng em là người đàn bà đầu tiên, em phải trở thành chủ nhân đàn bà trên đảo chứ?

-Đúng vậy.

-12 người đàn ông của em đâu? Có bước đi nổi không? Có sắp chết đói cả không?

Đội Nhất nhìn Lý Thắm:

-Họ khỏe như ta, vâm váp như ta.

Lý Thắm ngạc nhiên:

-Ôi trời, sao họ lạc lên đảo mà vẫn vâm váp, khỏe mạnh?

Đội Nhất nói:

-Đây là đất Mẹ. Đảo nuôi. Biển nuôi. Không để ai chết đói.

Lý Thắm hỏi:

-Họ nói được chứ?

-Họ là người Việt.

-Họ hiểu ta nói chứ?

-Họ là người Việt.

-Họ đồng ý cùng ở lại với chúng ta chứ?

-Họ là người Việt.

-Họ đồng ý cùng lập làng, lập ấp, cùng sống, cùng sinh con đẻ cái ở đây chứ?

-Họ là người Việt.

Lý Thắm tỉnh giấc vào lúc nửa đêm. Nói đúng ra là nàng không ngủ, nàng giả vờ ngủ thật say bên Đội Nhất nhưng chong mắt nhìn ra ngoài cửa lều, đợi lúc nửa đêm thì nhẹ nhàng bò ra khỏi lều.

Hồi chiều, Đội Nhất có đưa về mấy người đàn ông Việt từ cuối đảo tới, và như ma ám, Lý Thắm không cưỡng được đôi mắt nhìn đau đáu của một người đàn ông tên là Thắng. Anh cao lớn, khỏe mạnh, mái tóc dài phủ mặt, da đen, tiếng nói vang to, bước chân đi lún cát. Anh nhìn nàng. Ánh mắt như một ánh chớp khiến nàng suýt quỵ  xuống. Lúc chia tay để về lại nơi trú chân của mình, anh đi sát qua nàng, bàn tay anh cầm lấy tay nàng, ấm như một bếp lửa. Nàng nhìn anh đi trong ánh chiều tà, bóng anh đổ dài, di chuyển trong mắt nàng. Nàng cứ đứng sững ra thế cho tới khi Đội Nhất hích tay vào người nàng:

-Nàng thích hắn?

Lý Thắm giật mình.

-Ta cũng thích hắn.

-Chàng nói sao? Lý Thắm ngạc nhiên- Chàng cũng thích hắn?

-Ta thích hắn. Thằng này có thể thay ta cai quản lũ người ở đây nếu chẳng may ta bị hề hấn chi.

-Chàng nghĩ vậy ư?

Đội Nhất áp mặt mình sát mặt nàng, thả từng tiếng:

-Ta thích hắn nhưng không có nghĩa là hắn được quyền thay ta điều khiển nàng. Nàng hiểu ý ta chứ?

Trong ánh mắt của Đội Nhất vằn lên một tia máu nhỏ.

Lý Thắm dí bàn chân trong cát, không nói gì.

Đội Nhất lầm bầm:

-Cha ta từng dạy, trong đám đông cần có một người cầm chịch.

-Là chàng mà. Chàng là người cầm chịch. Chàng là người được Hoàng đế ra sắc chỉ.

-Điều đó đúng, nhưng chỉ có nàng và hai thủy binh biết điều đó, còn những kẻ kia, họ cũng chỉ coi bọn ta như họ, cũng bị bão đập phá tan thuyền và dạt vào đảo. Ta đã giải thích, đã nói chuyện với chúng rất nhiều, nói cả việc ta được Hoàng đế giao phó ta ra giữ đảo, cắm mốc cương giới, nhưng bọn nó hầu như không mấy quan tâm, bọn nó chỉ đang tìm cách vào đất liền. Nàng phải cẩn thận.

-Sao chàng dặn em cẩn thận?

-Ta sợ chúng nó rủ rê nàng vào đất liền. Ta … sợ mất nàng …

Lý Thắm nhìn Đội Nhất im lặng. Trong câu nói của Đội Nhất nghe rất đáng thương. Chẳng lẽ nàng quan trọng với chàng đến thế?

Dù rất sợ, nhưng Lý Thắm vẫn quyết định đi trong đêm tới nhóm đàn ông kia, gặp Thắng.

Nàng cũng thấy khó giải thích vì sao mình lại hành động như vậy. Nhưng chân nàng đã guồng trên cát rồi, không cưỡng lại được.

Trăng bị che mây, sáng nhờ nhờ trên trập trùng những triền cát. Lý Thắm vừa đi vừa chạy. Nàng thấy đỡ run hơn vì biết chắc Đội Nhất không biết, không đuổi theo.

Nàng trở nên như con mèo hoang đi tìm đực.

Những mỏm cát cao đã khuất dần sau lưng.

Cát ướt trong sương. Bàn chân nàng nóng bỏng đặt xuống cát, xới qua cát, xát mạnh vào cát, hình như nàng cảm giác như cát đang quấn lấy bàn chân, đang ôm ấp, đang liếm láp, đang làm tình với bàn chân mình. Người nàng như bó lửa cháy. Nàng lọt thỏm trong vòng tay mạnh và dẻo dai như dây chão buồm. Nàng không ngờ Thắng đã đợi sẵn đón nàng. Hóa ra chính Thắng cũng đang khao khát muốn tìm đến nàng.

-Chàng biết em đến?

-Biết.

-Sao biết?

-Soi bụng ta ra bụng người.

-Chàng biết em thích chàng?

-Không biết. Mà chính là ta thích nàng.

-Họ đâu cả?

-Ngủ.

Chớp nhoáng vài câu rồi cả hai vùi trong nhau, vùi trong cát, vùi trong ánh trăng.

Thắng cắn vào vú nàng, nói:

-Ta có nhiều kho báu? Rất nhiều. Nếu nàng chịu làm vợ ta, nàng là người giàu có nhất thế giới.

-Kho báu ở đâu?

-Đảo này rất nhiều của cải. Cả nhiều năm qua, hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn thuyền buôn đi qua đây gặp giông tố, thuyền bè dạt vào đảo, mang theo nhiều châu báu. Ta và anh em đã gom hàng tháng trời, đóng thành nhiều thùng gỗ, chôn giấu, đợi ngày có thời cơ thì về đất liền.

Lý Thắm choáng váng. Nàng nhớ lại việc nàng tìm được ít của cải, tưởng đã lớn…

Thắng lại cắn vào vú nàng:

-Nhưng dù có nhiều kho báu cũng không dễ vào đất liền. Nếu ta kéo nhau vào đất liền với kho báu, dù có an toàn trở về cũng bị giết chết.

-Vì sao?

-Vì quy tội ăn cắp của cải quốc gia.

-Của thuyền bè trôi dạt vào đảo, quốc gia gì?

-Mọi thứ trên đất này, trên nước non mây trời này thuộc về Hoàng đế, thuộc bách nhà, nàng hiểu không?

-Vì thế nên chàng và mọi người đã không thể mang của cải về đất liền?

-Ừ… Nhưng giờ thì có một cách.

-Thế à?

-Ta biết, Đội Nhất có sắc chỉ của Hoàng đế. Có sắc chỉ của Hoàng đế thì đi đâu cũng được, đưa kho báu vào đất liền không ai dám kiểm soát.

-Thế à?

-Nhưng Đội Nhất lại nhận lệnh Hoàng đế ra giữ đảo, mở rộng cương giới, vì thế, Đội Nhất không thể thuận ý theo bọn ta trở về.

-Thế à?

-Ta và anh em chỉ là ngư phủ, cả đời sấp mặt trên biển kiếm cá, kiếm tôm, rồi không may gặp bão, chết nhiều lắm, mười mấy người của ta may mắn thoát chết. Đáng ra cũng có thể đóng lại con thuyền, đợi thời tiết tốt, có thể về đất liền. Nhưng cả kho báu kia thì sao? Tiếc lắm. Chở về thì sợ phạm luật vua tôi. Để lại thì tiếc.

-Thì dâng tặng lên Hoàng đế lĩnh thưởng- Lý Thắm gợi ý.

-Không.

-Thế à?

-Ta mong ước giàu có. Mong muốn thoát cảnh bần hàn. Kho báu như của trời cho, dại gì không hưởng, đúng không?

Thắng lại cắn vào vú nàng lần nữa. Lý Thắm ngồi dậy, vấn tóc, chỉnh sửa xiêm y.

-Nàng về với hắn sao?

-Hắn?

-Đúng. Đội Nhất.

-Ngài là người được Hoàng đế ra sắc chỉ ra giữ đảo. Ngài là Chúa đảo.

-Chúa đảo ư? Còn ta? Ta có trong tay hàng chục thùng gỗ đựng vàng bạc, ta giàu có như Hoàng đế, gọi ta là gì?

-Chàng nên nộp toàn bộ báu vật ấy cho Chúa đảo Đội Nhất để dâng lên Hoàng đế.

-Nàng theo ta hay theo Đội Nhất?

-Em là thần dân của Hoàng đế, như chàng, như Đội nhất, như anh em.

-Hãy trốn theo ta về đất liền. Hãy giúp ta lấy sắc chỉ từ Đội Nhất rồi cùng đóng thuyền vào đất liền.

Lý Thắm im lặng.

Thắng kéo tay Lý Thắm vào sau một hốc đồi cát. Thắng châm đuốc. Thắng lật nắp nhiều thùng gỗ. Lý Thắm choáng người trước những thùng gỗ chất đầy vàng bạc.

-Hãy trốn theo ta vào đất liền, nàng sẽ thành người giàu có nhất thế gian. Nàng không cần giết Đội Nhất, chỉ cần lấy sắc chỉ Hoàng đế ban trao cho ta, ta sẽ ép Đội Nhất nghe theo ta.

-Chàng quyết như vậy thật chứ?

-Cũng có thể.

-Chàng không ân hận khi phải phạm tội tày đình này chứ?

-Cũng có thể.

-Thậm chí để có sắc chỉ Hoàng đế từ Đội Nhất, chàng sẵn sàng giết hắn?

-Cũng có thể.

-Và ngay cả khi anh em không chiều theo ý chàng, chàng cũng sẵn sàng giết họ để mang kho báu về đất liền làm giàu?

-Cũng có thể.

Lý Thắm cầm lên ngắm nghía một thanh kiếm có cán bằng vàng ròng, những hoa văn được khắc chạm tinh vi. Lý Thắm ngắm thanh kiếm rồi bất ngờ quay người đâm thẳng vào ngực Thắng. Máu từ ngực Thắng vọt thẳng ra, chảy ào ào xuống cát.

-Nàng… Nàng giết ta?

-Không. Em không giết chàng. Lưỡi kiếm này giết chàng.

-Nàng… tại sao?

-Tại sao ư? Vì chàng không phải đàn ông Việt. Đàn ông Việt lấy tính mạng mình giữ đảo không phải lấy đảo làm giàu cho bản thân mình như chàng. Đội Nhất là đàn ông Việt. Chàng là kẻ xa lạ. Em không giết chàng thì Hoàng đế, bách tính cũng giết chàng. Chàng chết ở đây không ai biết, chết như bị bão tố, đó cũng là ân huệ.

Lý Thắm đang nói thì Thắng vùng dậy, lao một cây sắt nhọn về phía Lý Thắm. Nhưng bất ngờ, ai đó dùng chân đá hất cây sắc nhọn bay đi. Hóa ra là Đội Nhất. Đội Nhất đã cứu Lý Thắm.

Thắng gục chết.

Lý Thắm nhìn Đội Nhất.

-Tối nay nàng có công lớn.

-Chàng đã theo em?

-Đúng vậy.

-Chàng không giận vì em đã chiều tên này hồi nãy chứ?

-Kh…ôông.

-Chàng nghe hết câu chuyện của hắn nói với em về kho báu chứ?

-Đúng vậy.

-Cám ơn chàng.

Đội Nhất cầm con ốc nhỏ lên thổi mấy tiếng hú dài. Đuốc cháy rừng rực. Mười mấy người đàn ông như chui trong cát lên chạy tới. Lửa vây quanh Đội Nhất, vây quanh xác Thắng.

Đội Nhất nói:

-Tên này trái lệnh Hoàng đế thì chết. Anh em nhìn cho kỹ. Ta vâng lệnh Hoàng đế ra trông coi đảo. Anh em đã thoát chết vào đảo thì ở lại cùng ta. Hoàng đế sẽ gửi nhà, gửi cây cối, gửi thóc gạo, gửi đàn bà ra cho anh em. Kho báu này ta phải gửi vào cho Hoàng đế. Ai chống lại, ai phản bội, ai thay lòng đổi dạ, giết.

Mọi người nhìn nhau.

Đội Nhất nói:

-Mọi thứ ở đảo từ nay theo lệnh ta. Có một thứ không cần theo lệnh ta, anh em vẫn có thể tự do.

Mọi người nhìn nhau.

Đội Nhất bỏ đi. Anh em nhao nhao hỏi sao thế, sao thế, cái gì tự do?

Đội Nhất quay lại, vén tấm vải che bộ ngực của Lý Thắm, soi ánh đuốc lên đôi vú tròn, cao, đầy đặn của Lý Thắm, nói:

-Đứa con đầu tiên sinh ra, giống ai, người đó được làm phụ tá cho ta, ta sẽ đề nghị Hoàng đế sắc phong.

Lý Thắm ưỡn ngực hỏi:

-Ai trước nào.

Đồng loạt 11 bàn chân của  11 người đàn ông cùng bước lên, hướng về Lý Thắm.

Lý Thắm nói:

-Đêm nay hai người thôi. Ai?

Không ai trả lời.

Đội Nhất cầm tay hai thanh niên:

-Hai người này.

Lý Thắm quay bước. Hai thanh niên đi theo.

Đội Nhất nói với những người còn lại:

-Không lo. Rồi Hoàng đế sẽ gửi đàn bà ra. Ta đã gửi tin cầu viện đàn bà. Ngủ đi.

Đội Nhất về.

Đội Nhất chui vào lều, nằm sấp trên cát, người nóng ran, tai nóng ran, miệng lẩm bẩm: hãy cố gắng, nàng là của ta nhưng ta không thể chiếm hữu nàng, hãy vì điều lớn lao của đảo, hãy vì tiếng trẻ con của đảo, hãy nghĩ đến những thần dân sau này của đảo…

Sau mé đồi cát, dưới ánh trăng, chỉ còn Lý Thắm và hai gã thanh niên.

Hình như họ khỏa thân trong trăng, trong cát, trong gió biển.

Đồng loạt 9 người đàn ông còn lại đứng ngẩn ngơ nhìn và cùng nuốt nước bọt.

Đội Nhất hỏi Lý Thắm:

-Tổng cộng là bao nhiêu ngày?

-24 ngày.

-Tốt rồi, 24 ngày đóng xong con thuyền thì mừng quá.

Đội Nhất đi cùng Lý Thắm xuống bãi biển. Một con thuyền gỗ đã được hoàn thành theo đúng ý Đội Nhất. Lý Thắm ngắm con thuyền, vẻ băn khoăn:

-Em sợ không chịu được bão.

-Đúng vậy. Nhưng mùa này e không còn bão. Ta sẽ cho buộc chặt hai bên mạn thuyền thật nhiều những bó tre nứa, nhỡ lật thuyền, thuyền vẫn nổi.

Đội Nhất ngắm nhìn con thuyền, lại nhìn mười mấy chàng trai trẻ lực lưỡng suốt nhiều ngày đêm qua đã tìm kiếm, nhặt nhạnh, ghép đóng nên con thuyền này.

Đội Nhất nói:

-Thuyền đóng đã xong. Giờ ta cần 5 anh em tình nguyện lên thuyền để đưa được thuyền vào đất liền. Chuyến đi này quan trọng. Chúng ta đưa một vài thùng vàng bạc về dâng Hoàng đế và mang theo cả lời thỉnh cầu của ta. Nếu thuyền về tới đất liền, anh em chắc chắn sẽ được trọng thưởng. Ai đi?

Lý Thắm nói:

-Ai trong anh em cũng muốn về quê hương, em cũng vậy, nhưng đây là chuyến đi cái chết nhiều hơn sự sống, nên anh em cần suy nghĩ, đã tiên phong thì cố đưa thuyền về tới nơi. Em sẽ cầu nguyện…

Đội Nhất chọn ra năm người. Lý Thắm đặt vào tay họ mấy bọc thức ăn:

-Ba ba ướp. Thịt rùa ướp muối. Đây là ốc biển, em đã kho viên lại để ăn dài ngày. Các chàng còn cần gì nữa không?

Năm chàng trai trẻ lắc đầu.

Đội Nhất hỏi:

-Có sợ không?

Lắc đầu.

-Thuyền nhỏ, biển rộng, bão tố bất thường, đất liền xa vời vợi, có thấy run tay chùn chân không?

Lắc đầu.

-Trên thuyền chở nhiều ngọc ngà vàng bạc, nếu được là của riêng, các ngươi giàu nhất nước. Có ai thấy trong lòng nhen nhóm chút tham lam muốn làm của riêng không?

Lắc đầu.

-Nếu trời thương, biển nâng, tổ tiên giúp sức, Hoàng đế soi sáng, các người về được đất liền, gặp cha gặp mẹ, gặp anh gặp em, có người yêu thương, có vợ hiền bên cạnh, các người có dám quay ra đảo với ta không?

Gật đầu.

-Nếu bị phong ba bão táp, thuyền vỡ, hàng chìm, còn một người sống, các người cũng quyết chí về với đất liền để báo tin cho Hoàng đế chứ?

Gật đầu.

-Lại đây với ta.

Đội Nhất ôm lấy từng thủy binh, ôm thật lâu. Lý Thắm cũng ôm lấy từng thủy binh, ôm thật lâu. Từng người ở lại ôm lấy người ra đi, ôm thật lâu.

-Có gió rồi- Ai đó gọi to.

Con thuyền sau một chút chòng chành bắt đầu hướng về đất liền. mảnh buồm rộng, được may vá bằng nhiều mảnh áo, bằng nhiều mảnh khăn của Đội Nhất, của Lý Thắm, của anh em trên đảo.

Sóng cao hơn thuyền.

Biển dài rộng trùng trùng hút tầm mắt.

Con thuyền còn lại như miếng cau khô, mong manh trên đỉnh sóng.

Đội Nhất ngồi bên Lý Thắm, sát chân sóng.

Lý Thắm buông một tiếng:

-Em nhớ nhà quá.

Đội Nhất cầm vai Lý Thắm xoay gương mặt nàng lại, nhìn sâu vào mắt nàng:

-Tối qua ta đã đồng ý cho nàng về quê, nàng đã từ chối?

Lý Thắm chớp mắt:

-Em về thì trên đảo còn ai? Còn toàn trai tráng ư?

-À… Cám ơn nàng.

-Chàng từng nói, bước chân lên đâu, ở đó là làng, là quê, em theo chàng.

Đội Nhất ngắm nhìn gương mặt Lý Thắm. Có lẽ bây giờ Đội Nhất mới có dịp ngắm nhìn gương mặt nàng kỹ đến thế, nhìn rõ cả đôi mắt đen láy, hàng lông mi mảnh mai, đôi má lúm đồng tiền, hàm răng trắng, nàng rất đẹp.

-Ta đã không thất vọng khi lấy nàng theo cùng.

Lý Thắm mân mê đôi bàn tay rắn như thép của Đội Nhất:

-Nếu ở đất liền, chàng gặp em, có cưới em làm vợ không?

-Chắc thế.

-Ở đảo hoang xa ngái, lúc nào em là của chàng, lúc nào chàng là của em?

-Nàng hỏi vậy có ý gì?

-Em muốn chàng nói, chàng yêu em.

Đội Nhất không nói gì. Hai người im lặng. Lúc sau, tiếng Lý Thắm hỏi nhỏ:

-Liệu lời khẩn cầu của chàng có đến được Hoàng đế?

-Được. Ngày nào ta cũng khắc chữ lên ván gỗ, thả vào đất liền, hàng ngàn mảnh gỗ báo tin tức và thỉnh cầu, chắc cũng sẽ vào được.

Lý Thắm nâng gương mặt sạm nắng của Đội Nhất, thì thầm:

-Em thương chàng.

-Ta cũng vậy, thương nàng.

-Em có thai rồi…

-Thật chứ?

-Nhưng em không chắc là giọt máu của chàng.

-Tất cả con nàng đều là con của ta, con của anh em trên đảo.

Lý Thắm ngả đầu vào vai Đội Nhất, nàng lim dim mắt lắng nghe tiếng sóng, lắng nghe tiếng hải âu, lắng nghe tiếng gió biển, lắng nghe cả tiếng thổi vỏ ốc vi vu của chàng trai nào đó trên đảo.

Trời trong, mây trắng, biển lặng, tưởng thế là quá mừng, tưởng thế là con thuyền liên lạc của Đội Nhất sẽ chẳng mấy ngày mà tới đất liền. Nhưng đêm xuống, bỗng dưng biển sôi lên, và những cơn sóng ngầm lừng lững từ dưới đáy biển thốc lên, con thuyền chao nghiêng ngả.

Cánh buồm trong phút chốc bị gãy gục, những mảnh vải rách tơi tả.

Năm chàng trai trẻ ghìm lấy mái chèo, cố giữ cân bằng cho thuyền nhưng sức người hình như chẳng thấm tháp gì với sức mạnh của những đợt sóng ngầm đang hùng hổ trào lên, muốn nuốt chửng tất cả.

Bàn tay các chàng trai bất lực níu lấy nhau. Sóng phủ qua đầu họ. Mùi nước biển bỗng nhiên tanh tưởi. Không khí khét lẹt. Tiếng ầm ầm của những con sóng lớn vẫn lao tới.

Rồi bất chợt con thuyền như được nâng bổng lên khỏi mặt biển.

Năm chàng trai nhắm mắt. Họ chờ đợi một cú lật thuyền. Họ chờ đợi cái chết. Họ chờ đợi phút hiểm nguy.

Những bàn tay các chàng trai nắm chặt lấy nhau, nắm chặt lấy mạn thuyền, ôm cứng lấy mấy thùng báu vật.

Nhưng con thuyền không hề hấn gì.

Trên những đỉnh sóng cuồn cuộn, đen trùi trũi đang xô tới, con thuyền như có phép lạ, bay trên những đỉnh sóng, bay ào ào, bay như có lực đẩy của thánh thần.

Họ nghe những tiếng kêu chíu chít, họ cảm thấy tay mình đang chạm vào vật thể khổng lồ. Rồi trong ánh sáng mờ ảo đầy ánh lân tinh, họ thấy rõ ràng một đàn cá nhà táng to như con voi rừng, đang ồ ạt bám lấy con thuyền, nâng con thuyền lên, và cùng quẫy đuôi đẩy con thuyền nhanh chóng thoát khỏi vùng xoáy lốc của những cơn lốc ngầm dưới đáy biển.

Con ngựa xám có bờm trắng đưa người lính canh biển lao vun vút về phía kinh thành.

Tiếng ngựa hí làm nhiều người dân kinh thành giật mình và đoán già đoán non có chính biến gì ghê gớm lắm thì lính canh mới phải dùng ngựa lao như bay về kinh thành như thế.

Hoàng đế cầm trên tay mảnh ván do người lính canh biển dâng lên. Những dòng chữ khắc trên mảnh ván vội vã, chuệch choạc nhưng chan chứa những câu những chữ thống thiết. Hoàng đế trào nước mắt:

-Than ôi. Nhiều ngày nhiều tháng ta mòn mỏi trông ngóng tin tức, tưởng là đội thủy binh của ta, Đội Nhất của ta đã chết. Nào hay, trời cao lồng lộng chở che, đội thủy binh dù chết gần 200 mạng, thì Đội Nhất và một số người khác cũng đã tới đảo Cát vàng, cắm được mốc giới. Nhưng sao Đội Nhất không xin ta thuyền ra cứu viện, không xin ta lương thảo, không xin ta ngày về, lại cầu xin ta mau mau cứu viện đàn bà ra đảo?

Quan thị vệ bẩm:

-Bẩm bệ hạ. Đội Nhất cầu viện đàn bà là có ý của ngài. Giữ đảo không chỉ bằng mốc giới, giữ đảo phải bằng người, mà không có ai phù hợp hơn bằng chính con cái được sinh trên mảnh đất ấy. Đội Nhất xin cầu viện đàn bà là để có con cái, là để lập làng lập ấp. Người Việt mình ngàn đời nay là thế, thưa Bệ hạ, khi đất đai thành nơi sinh thành, khi đất đai thành nơi chôn nhau cắt rốn thì truyền đời con cháu giữ lấy, không mất được.

Hoàng đế rơi nước mắt và hạ chiếu tuyển đàn bà ra đảo.

Dù chiếu chỉ của Vua là ý trời, nhưng quan trong triều vẫn lo lắng, sợ việc tuyển đàn bà ra đảo sẽ xảy sự trốn tránh, hoặc nếu không trốn tránh thì cũng là những ả đàn bà mắt lé, chân lùn, tay u thịt bắp, đồ cặn bã thế gian. Quan trong triều xúm lại thảo chiếu chỉ, vẽ ra cho thần dân biết ra đảo sẽ ăn sung mặc sướng, sẽ được Hoàng đế trọng thưởng nhiều vàng bạc. Ra sống ở đảo là nêu gương sáng cho trăm họ, là vươn tới hạnh phúc tràn trề, là tương lai, là giàu có. Hoàng đế đọc xong, nói, không được. Cái gì nói với dân phải nói cho thật. Cái gì làm cho dân phải làm cho hết lòng. Nói dối dân là nói dối tổ tiên. Nói ra cái cực, cái khổ khi ở đảo mà thần dân vẫn theo ra, ấy mới là người nước Việt.  Vì thế, trong chiếu chỉ mới có đoạn này: “Cương giới nước Việt ta nay thêm nhiều đảo cát vàng cách đất liền trùng trùng biển lớn, đi nhiều dặm mới tới, đi nhiều ngày mới tới, đường đi nguy nan, nhưng dù nguy nan thì đảo ấy là của nước ta, đã cắm mốc giới. Đảo ấy đã có đàn ông Việt, hôm nay là mười mấy người, sau này sẽ nhiều trai tráng ra đấy giữ cương giới. Nay thỉnh theo lời nguyện cầu của trai tráng ngoài đảo xa, ta ban chiếu kêu gọi nữ nhi trong nước, nếu muốn đem phận gái mình phụng sự giang sơn, cùng ra đảo sống với trai tráng, sinh con đẻ cái, lập làng lập ấp, thì hãy theo chiếu chỉ này của ta, mau mau về kinh thành để các cận thần tuyển lựa…”.

Chiếu chỉ ban đi một ngày. Im ắng. Hai ngày. Im ắng. Ba ngày. Im ắng.

Hoàng đế hỏi:

-Đã chắc chắn chiếu chỉ của ta đã về tận thần dân?

-Bẩm Bệ hạ, đã về đến từng thôn làng.

-Không thấy ai vào? Không thấy bóng nữ nhi nào? Vậy là sao?

-Bẩm bệ hạ, chắc chắn sẽ có nhiều người…

-Sao các ngươi biết chắc như vậy?

-Vì đàn bà Việt là phải vậy, thưa bệ hạ.

-Người ta biết ngoài đảo xa gian khó, đi còn chưa biết sống chết thế nào, ra đấy cũng không biết sinh sống thế nào, sao các người vẫn tin đàn bà các nơi sẽ  tình nguyện nghe theo chiếu chỉ?

-Vì đàn bà Việt là phải vậy, thưa bệ hạ.

-Ta ban chiếu chỉ nhưng không nỡ ép buộc, không nỡ ban lệnh phạt, nhưng liệu có ai nghe theo lời kêu gọi của ta để ra chốn biên cương, làm vợ các thủy binh, khổ nhiều, chết nhiều, nguy hiểm nhiều, thiệt thòi nhiều… các ngươi biết thế nhưng sao vẫn tin lũ đàn bà sẽ tới?

-Vì đàn bà Việt là phải vậy, thưa bệ hạ.

Đội Nhất nằm sấp, áp một bên tai xuống bờ biển.

Lý Thắm ngạc nhiên:

-Chàng đang nghe gì?

-Ta nghe biển thở.

-Để làm gì thưa chàng?

-Để biết biển yên hay dữ.

Đội nhất đứng lên ngóng mắt về phía đất liền:

-Một tuần rồi nàng ạ… Thuyền của ta xuất hành một tuần lễ. Nếu không gặp nguy khốn, giờ này đã tới nơi…

Một trai tráng chạy tới, cầm trên tay một mảnh vải buồm lớn:

-Thưa ông Đội…

Đội Nhất hốt hoàng cầm lên mảnh vải buồm, mảnh vải được may bằng áo bằng quần, bằng khăn của mọi người…

Đội Nhất sụp xuống trên cát:

-Sao lại chết cả thế?

Lý Thắm hốt hoảng:

-Chàng nói gì thế?

-Sao trời không thương anh em?

Lý Thắm gục mặt bên mảnh vải thuyền buồm:

-Sao trời không thương anh em?

Các trai tráng cũng lao tới, đứng sững, rú lên:

-Sao trời không thương anh em?

Đội Nhất rút con ốc ra, hướng về phía biển, thổi từng hồi dài. Âm thanh từ vỏ ốc phát ra nghèn nghẹn, tắc cứng, đứt đoạn đầy đau đớn.

Lý Thắm chạy lên đồi cát cao.

Đội Nhất cũng chạy theo.

Các anh em cũng chạy theo.

Biển xanh quá, mênh mông quá.

Hàng trăm vỏ ốc lớn do Lý Thắm chôn trong cát để hứng nước mưa, không hiểu sao lúc này, gặp phải gió trời, cùng rú lên, hú lên, vi vu như một dàn đồng ca khóc than đau đớn.

Đội Nhất hét lên:

-Sao trời không thương anh em?

Thủy triều rút xuống vào lúc sáng sớm. Trên bãi sú vẹt nhoe nhoét bùn, xác con thuyền bị hất ngược vào tới bãi. Còn lại ba chàng thủy binh đang nằm vùi trong bùn đất, tay vẫn ôm khư khư mấy thùng gỗ. Quần áo của họ rách nát, chân tay bầm tím, nhưng họ vẫn sống.

Những tiếng thều thào. Những cánh tay quờ quạng vào nhau. Nắng chiếu rọi trên gương mặt bám đầy bùn đất của các thủy binh. Họ mở mắt. Họ hiểu họ đã tới đất liền. Họ đã sống. Gắng gượng níu lấy tay nhau, ba thủy binh đứng dậy, nhìn trước ngó sau, mờ xa trong tầm mắt là làng mạc…

Họ nhìn vào mặt nhau và tự hiểu, có hai người đã chết.

Ba thùng gỗ đựng báu vật dâng lên Hoàng đế không hiểu sao vẫn không bị chìm xuống biển, vẫn nguyên vẹn dưới chân họ.

Họ nhớ lại hình bóng những con cá nhà táng xuất hiện cứu họ từ hồi đêm.

Lấy hết sức lực, ba chàng thủy binh dùng dây, buộc chặt ba thùng gỗ và khom người kéo nhích những thùng gỗ vào bờ, vượt qua bãi bùn lầy sú vẹt.

Cho tới khi chạm bãi cát thì cả ba gục xuống, tay vẫn choàng ôm những thùng gỗ.

Lý Đạt nhìn hai người bạn đồng hành với mình là Hoàng và Trung:

-Đất liền rồi, anh em nghe tôi nói không, đất liền rồi..

Hoàng mệt mỏi nhìn:

-Còn cách Kinh thành bao xa? Đây là đâu?

-Không cần biết, nhưng chúng ta sống rồi, mấy thùng của cải vẫn nguyên, kiểu gì cũng gặp lính canh phòng bờ biển…

-Tôi đói…

-Ở đây xa Kinh thành, tiền bạc không còn, lấy chi mua thức ăn?

-Ba thùng gỗ chứa toàn vàng bạc… Hay là…

Lý Đạt nghiêm mặt:

-Không. Không được đâu anh em…

Họ kéo nhau đứng lên. Xa xa là vọng gác của trại lính.

Lý Đạt nhìn hai người anh em:

-Anh em ngồi đây, tôi khỏe hơn, tôi sẽ báo với lính canh cứu anh em mình.

Lý Đạt đi sấp ngửa đến chòi canh.

Lính canh hỏi:

-Có phải thủy binh của ngài Đội Nhất?

-Sao anh em biết?

-Lệnh từ Kinh thành loan báo đến tất cả các vọng gác, tìm kiếm các anh.

-Hoàng đế vạn tuế.

Lính canh phát tín hiệu.

Trong trại lính, nhiều người chạy túa ra.

Sân Hoàng cung.

Đàn bà con gái lũ lượt kéo nhau vào đứng thành hàng thành lối. Con nhà khá giả thì xiêm y lộng lẫy, con gái nhà nghèo thì quần the áo cánh, tươm tất cả.

Các quan đại thần bước lại:

-Bẩm Bệ hạ, không đếm kịp là bao nhiêu người…

-Bẩm Bệ hạ, còn đông hơn những lần Bệ hạ tuyển chọn cung nữ.

-Mà xem ra, những cô gái kia còn đẹp hơn cả những lần Hoàng cung tuyển chọn cung nữ…

Hoàng thượng nhìn khắp lượt, cảm động:

-Biết là phải ra nơi hoang đảo, nhưng ai ai cũng nô nức đến kinh thành tự nguyện, lòng ta vui lắm…

Quan đại thần hỏi:

-Bẩm bệ hạ, cầu ít cung nhiều, giờ phải làm thế nào?

Hoàng thượng hỏi lại:

-Biết bao nhiều là ít, bao nhiêu là nhiều? Đảo hoang trùng điệp ngoài khơi, biết bao nhiêu người là đủ?

-Nhưng bẩm Bệ hạ, người nhiều thì kéo theo lương thảo, đồ đạc, nhà cửa, thuyền bè, ngân khố nuôi họ là không ít.

-Ta nghe nói, đảo Cát vàng ấy chứa nhiều của cải. Đội Nhất  khắc chữ viết thư vào gỗ ván gửi về nói vậy. Thế là đảo ấy giàu có của nả, có lợi cho quốc khố. Nhưng cả khi chỉ cát ròng, thì việc giữ đảo là giữ nước, quốc khố không tiếc…

-Bẩm bệ hạ, con gái trẻ đẹp thế kia, hay Bệ hạ ra chiếu chỉ chọn lọc, ai trẻ quá, đẹp quá thì cho phục vụ làm tì nữ trong hậu cung, số còn lại thì cho ra đảo?

Bệ hạ ngắm nhìn những cô gái xinh xắn xếp hàng trước mặt, gật đầu:

-Các ngươi nói đúng, các cô gái đều rất xinh đẹp. Như thế là thần dân đã tự lựa chọn từ quê nhà, để dâng lên ta những thanh nữ xinh đẹp nhất…

-Bẩm bệ hạ, quả đúng vậy.

-Các ngươi cũng nói đúng, mấy lần ta tuyển chọn cung nữ, không đông như thế này và chắc hẳn cũng không đẹp thế này.

-Bẩm bệ hạ, quả đúng vậy.

-Thế thì vì sao? Tuyển cung nữ là vào nơi cuộc sống ngọc ngà, danh thơm cả họ, sao người ta ít hào hứng? Tuyển người ra đảo hoang, cái chết liền kề, xa quê xa quán, sống khổ cực thiếu thốn, sao người ta hào hứng? Hay các ngươi giấu ta đánh lừa dân chúng, đảo hoang có nhiều ngọc ngà châu báu, kích thích lòng tham?

-Không, thưa Bệ hạ.

-Hay các ngươi đánh lừa dân chúng, là hôm nay tuyển cung nữ chứ không phải tuyển người ra đảo, các ngươi đánh tráo nội dung thánh chỉ?

-Không, thưa Bệ hạ.

-Ta lại nghe, các thiếu nữ hôm nay tới để ta tuyển ra đảo xa, tất cả đều là gái trinh nguyên, tiết hạnh, có đúng thế không?

-Dạ đúng.

-Nhưng ta nhớ, trong thánh chỉ của ta ban xuống, không nói tới điều này, không cần đến tiêu chuẩn trinh nguyên tiết hạnh.

-Dạ đúng.

-Thế mà dân chúng vẫn nhất nhất tuyển cho ta những thiếu nữ trinh nguyên tiết hạnh. Đó là vì sao?

-Bẩm Bệ hạ, thần có mang câu hỏi ấy hỏi các thần dân có con gái tới đây, thần dân nói, biển cả xa xôi, đảo nằm nơi cương giới, phận người mỏng, phận trời cao rộng, phải đưa con gái trinh nguyên tiết hạnh đặng không làm ô uế biên cương, thuận ý trời, kính lời Hoàng thượng…

Hoàng thượng lau nước mắt vì cảm động.

Quan đại thần phụ trách tuyển mộ dâng lên trước Hoàng thượng danh sách các thiếu nữ, tên tuổi, quê quán.

Hoàng thượng nhìn qua, hỏi:

-Không có ai con của các đại quan triều đình, cũng không có ai là con của các quan địa phương, các tổng, huyện. Tất cả là con thần dân nơi làng quê? Đúng vậy không?

-Bẩm Bệ hạ… về điều này…

-Ta nhớ, mấy lần tuyển cung nữ, danh sách toàn con cái quan đại thần trong triều, thấp nữa thì con cái các quan địa phương, ít của thần dân. Nay tuyển người ra giữ biên cương, con cái các quan đâu?

-Bẩm Bệ hạ, về điều này…

-Ăn miếng ngon thì các quan giành, nơi sóng gió nguy hiểm thì các quan không ai giành, lại nhường hết cho thần dân, đây là lẽ gì?

-Bẩm Bệ hạ… về điều này…

-Ta ban Thánh chỉ, theo dõi trong các hộ, các nhà quan đại thần, các quan địa phương, hễ có con gái đúng tuổi, lập tức ghi danh để chuẩn bị ra đảo phục vụ cho quốc gia.

-Bẩm Bệ hạ, tuân chỉ.

-Quan không làm gương, dân chúng chê cười. Quan tránh né hiểm nguy gian khổ, thần dân coi khinh. Đừng nghe thần dân vạn tuế mà nghĩ nhất nhất kính ta nếu ta không gương mẫu. Đừng nghe thần dân vái lạy mà nghĩ thần dân sợ ta nếu ta không thành thật.

-Bẩm bệ hạ, tuân chỉ.

Trong đám đông các cô gái đến tuyển mộ, chợt vang lên tiếng khóc ai oán, rồi một cô gái băng tới trước mặt Hoàng thượng. Hai tên lính giữ cô gái lại.

Hoàng thượng ra hiệu cho hai người lính cho cô gái tự do.

-Nhà ngươi có chuyện chi khóc lóc?

-Bẩm Hoàng thượng- Cô gái nức nở- Con 17 tuổi, gái nhà lành, chưa một lần được người đàn ông nào cầm tay, vuốt tóc. Nghe theo Thánh chỉ, con tình nguyện ra đảo cùng trai đinh giữ gìn cương giới và thề dâng tiết hạnh cho những trai đinh giữ đảo biên cương. Nào hay trong lúc tập trung ở làng, Lý trưởng đã hãm hiếp con, ông ấy nói, ra đảo xa thì cần gì tiết hạnh, tiết hạnh để lại, thân xác ra là đủ, ngoài ấy biết sống thế nào, chết thế nào. Con đã  một mực chống cự mà không được. Nay con quyết vào gặp Hoàng thượng, nói cho rõ sự tình, cái nhục này con không im lặng được.

Ngay tức khắc Hoàng thượng bắt lôi tên Lý trưởng ra. Ngay tức khắc Lý trưởng bị chém đầu.

Hoàng thượng nói:

-Ta vâng mệnh trời, làm Vua, đứng trên thiên hạ. Nhưng ta ăn cơm của thiên hạ, uống nước của thiên hạ, mang xiêm y của thiên hạ. Không có thiên hạ không có vua. Coi thường thiên hạ là coi thường quốc thể. Đất nước muốn yên thì biên cương phải vững. Ta cảm kích trước tấm lòng của thần dân đã dâng hiến con cái mình cho cương giới. Ai làm ô uế ý nghĩ và tấm lòng với biên cương, kẻ đó phạm trọng tội.

Mọi người cùng reo hò:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế.

Đợi cho mọi người im ắng, Hoàng thượng lệnh cho quan cận thần đưa ba thủy binh của Đội Nhất vừa thoát chết về đất liền ra trước mắt mọi người. Họ vẫn quần áo rách rưới, thân hình tiều tụy, da dẻ thâm tím sau những ngày vật lộn với sóng to, biển động.

Hoàng thượng nói:

-Đây là ba thủy binh của ta vừa từ đảo cát vàng trở về. Biển động, sóng dữ, thuyền vỡ, người chết, chỉ còn ba người này trở về… ta rất cảm kích. Nhưng ta cũng muốn nói với các thần dân biết, ra đảo là nguy hiểm, đi cũng chưa chắc tới, về cũng chưa chắc đến, rồi bão tố, rồi bệnh tật, muôn vàn gian khó. Đó không phải là nơi ra để sung sướng. Đó không phải là nơi ra để nhàn nhã. Nếu ai sợ, cứ việc quay về, ta không ép.

Quan đại thần hỏi lại mấy lần, ai sợ, Bệ hạ cho lui. Nhưng không ai lui.

Hoàng thượng lại khóc vì cảm động.

Các cô gái được cho vào hậu cung, được nhận lương thảo, được nhận vải vóc, được nhận các vật dụng để chuẩn bị cho chuyến đi ra đảo.

Hoàng thượng còn cho các cô gái xem trò, xem múa hát cung đình.

Hoàng thượng còn yêu cầu quân cơ tập cho các cô gái biết bơi lội, biết chống đỡ sóng to gió lớn.

Mấy ngày ấy, trong Kinh thành vui lạ lùng.

Tối đó ở vườn Thượng uyển, Hoàng thượng mở tiệc nhỏ. Ba chàng trai quân của Đội Nhất vừa vượt biển trở về được mời dự tiệc.

Hoàng thượng nói:

-Ta ghi công Đội Nhất đã tìm tới đảo cát vàng, đã hoàn thành việc cắm mốc cương giới. Ta khen các ngươi đã chịu sóng to gió lớn, chịu đói chịu khát mang về dâng lên ta những hòm gỗ chứa nhiều của nả quý giá. Của nả nhiều, quý lắm, nhưng không quý bằng việc hiện giờ, ngoài đảo ấy, cương giới ấy, đã có người Việt ta.

Lý Đạt nói:

-Bẩm Bệ hạ, đảo cát vàng là nơi án ngữ biển đông, là nơi thuyền bè nhiều nước qua lại, thông thương giao lưu với các nước sẽ rất thuận lợi.

-Các ngươi hiện sinh sống ra sao? Đội Nhất sinh sống ra sao?

-Bẩm Bệ ha, dựng lều để ở, ăn thì có cá tôm, có nhiều sản vật quý, không sợ đói. Đội Nhất mong có làng có ấp thì mới giữ biên cương bền lâu được.

-Đúng vậy.

-Đội Nhất mong Hoàng thượng chuẩn tấu việc phải đóng thuyền lớn, thuyền chắc thì mới đưa người ra đảo được. Phải làm sao việc qua lại giữa đảo và kinh thành phải an toàn…

-Đúng vậy.

-Bệ hạ có thể kêu gọi lòng yêu nước, thần dân có chết cũng theo. Nhưng về lâu dài, Đội Nhất nói, lòng yêu nước phải được Hoàng thượng bảo đảm bằng ý chí, bằng lòng dũng cảm và bằng cả ý trời, lòng dân.

-Đúng vậy.

-Bẩm Bệ hạ, Đội Nhất nói, rồi sớm muộn các nước láng giềng cũng sẽ nhòm ngó cương giới, nên Bệ hạ cần ra chiếu chỉ, cho đóng thuyền quân sự, huấn luyện binh võ, khi có biến thì có thể đánh bại âm mưu xâm chiếm của các nước, bảo vệ cương giới an toàn mới bảo vệ được giang sơn nước Việt.

-Đúng vậy. Lời Đội Nhất nói thuận với ý ta. Khá khen. Khá khen.

Hoàng thượng cho người ban thưởng ba thủy binh vải vóc, nhung lụa rồi hỏi:

-Nay ta lại ban cho các người được ở Kinh thành, phục vụ trong quân đội Hoàng cung, ngày đêm sống gần ta, hưởng phú quý vinh hoa, các ngươi thấy sao?

Lý Đạt nói:

-Bẩm Bệ hạ, ơn trời biển của Bệ hạ chúng thần ghi lòng tạc dạ. Nhưng chúng thần xin Bệ hạ cho phép chúng thần lại ra đảo, ra với Đội Nhất.

Hoàng thượng cảm kích lại lấy khăn lau nước mắt.

Suốt mấy ngày, Đội Nhất cùng anh em trên đảo mới đào được con thuyền lớn bị vùi trong cát ở một hòn đảo nhỏ nằm cạnh đảo lớn. Mừng quá. Phía trong lòng con thuyền gỗ này, chất chứa không biết bao nhiêu của cải. Của cải lại đóng kín trong các hòm gỗ, nẹp dây, không biết vùi trong cát đã bao nhiêu ngày tháng nhưng tất cả vẫn nguyên vẹn.

Chưa vội cho anh em mang các thùng gỗ chứa đồ đạc lên, Đội Nhất lệnh anh em tìm kiếm thân xác người chết.

Không thấy ai. Không dấu vết nào. Con thuyền bị gãy đôi, chắc là từ ngoài khơi xa rồi sóng lớn dạt thuyền vào đảo.

Kiểm kê tổng cộng 68 thùng gỗ. Trong đó không biết cơ man nào là vải vóc, nhung gấm và vàng bạc, ngọc ngà. Lại có những đôi sừng voi xếp chồng lên nhau nguyên vẹn. Lại có cả những thỏi vàng vuông vắn, nặng như viên gạch. Lại có cả những cây kiếm, cây dao, đao nhọn, tất cả đều được bó lại, cất giấu kỹ trong từng thùng gỗ.

Nếu để riêng số vàng bạc ngọc ngà thu được, Đội Nhất nghĩ, chắc còn nhiều hơn ở Kinh thành.

Đội Nhất sai anh em dùng ván cũ, che mấy cái lều, dùng vải buồm cũ khoác lên đống đồ đạc. Đội Nhất lại sai Lý Thắm mở sổ, ghi chép kỹ lưỡng, bao nhiêu súc vải, bao nhiều nén vàng, bao nhiêu viên ngọc, tổng cộng đến mấy chục trang giấy.

Lại nhận được tin của anh em đi thám sát về báo, còn đến mười mấy con thuyền buôn gặp nạn bị chôn vùi ở đảo, cũng chứa đầy của cải.

Đội Nhất hỏi Lý Thắm:

-Nàng chép tổng cộng mấy sổ rồi?

-Tám sổ.

-Thế là nhiều lắm. Đảo này lâu nay hoang vắng, thuyền buôn các nước qua lại khi gặp sóng lớn, biển động, tai nạn đều bị sóng lớn dạt thuyền bè vào đây, chất trên nhiều đảo ở vùng này cả núi của cải. Hoàng thượng anh minh, cử ta ra đây, vừa là giữ cương giới, vừa là để tìm kiếm của cải mang về sung vào quốc khố.

Lý Thắm nhìn kỹ gương mặt cháy nắng của Đội Nhất bất chợt hỏi:

-Mấy tháng rồi không có hạt cơm ăn, ăn ròng thịt cá người phát phù ra, rau xanh cũng không có, muối lại sắp hết, áo quần không có thay, chỗ ở chui rúc như muông thú, cực khổ bội phần như thế mà em không thấy chàng chán nản, ngày ngày vẫn say sưa đi lùng sục của cải cho Quốc khố, chàng không nghĩ tới mình ư?

Đội Nhất cả cười, đáp:

-Ta hưởng bổng lộc triều đình, là thần dân của Hoàng thượng, không lo nghĩ việc nước, sao chỉ nghĩ đến mình. Nếu đã nghĩ đến mình, xong việc cắm mốc cương giới, ta có thể đưa nàng về và lĩnh thưởng.

-Đúng vậy chàng.

-Của cải trong đất đai cương giới của đất nước, mình là thần dân, thấy mà không bảo vệ, không vun vén để giao nộp cho Triều đình là mình không trọng đạo với Bệ hạ.

-Em chỉ là phận nữ nhi, không biết chuyện triều chính, nhưng em vẫn muốn hỏi chàng, vì sao chàng sống chết với Hoàng thượng đến như vậy?

-Khi Hoàng thượng biết sống chết với thần dân thì thần dân tận lực vì Hoàng thượng. Năm kia, bách tính đói kém, Hoàng thượng về tới nơi, phát chẩn, nghiêng hết ngân khố ra cho dân, không tiếc của cải, không tiếc tình thương yêu bách chúng, Người như vậy há dễ thần dân không động lòng, không hết lòng vì phận vua tôi? Từ ngày Hoàng thượng lên ngôi, bất cứ Thánh chỉ nào ban ra cũng vì dân, không như các triều Vua trước, ban Thánh chỉ là vì cái lợi của Vua chúa quan lại, không cần nghĩ tới chúng dân. Người như vậy há dễ thần dân ủng hộ?

-Như chàng nói, chàng sống chết vì Hoàng thượng chỉ vì chàng biết Hoàng thượng cũng đang sống chết vì dân chúng?

-Đúng như thế.

-Nhưng nếu lúc đó, một Hoàng thượng khác chỉ chăm chăm nghĩ đến quyền lợi của cá nhân mình, của gia tộc mình, của con đàn cháu đống quanh mình, lấy dân chúng làm nơi để vơ vét, sao nhãng việc quốc gia, đàn áp con dân trăm họ, liệu chàng có tiếp tục phục tùng?

-Lúc ấy, nàng biết không, chúng dân dù căm phẫn nhưng im lặng tạm thời vì thế yếu, đường cùng. Một Hoàng thượng mà không làm dân tin nữa, thì sự tồn tại của Hoàng thượng cũng chỉ là cái cây trên cát, gốc rễ thuộc về dân, cây sẽ đổ nếu gốc rễ không còn. Ta phụng mệnh Hoàng thượng vì niềm tin của ta. Nếu lúc đó Hoàng thượng không làm ta tin nữa, sự phụng mệnh đó trở nên như màn múa hát cung đình, có múa mà không có hồn, có hát mà trong lòng trĩu nặng ưu tư, có cười mà ruột gan cháy bỏng, có vâng mà ánh mắt thâm thù, có vạn tuế mà đầu nghĩ về tạo phản. Lúc ấy đất nước lâm cảnh nguy nan.

-Lúc ấy chắc chắn chàng sẽ không giao nộp những của cải báu vật này cho Hoàng thượng?

-Đúng vậy.

-Thế nó sẽ thuộc về ai?

-Thuộc về trăm họ.

-Nhưng không lẽ chàng không nghĩ tới ngày về?

-Nàng biết không, ngày ta lên đường, mẹ ta bệnh nặng. Ta mong về lắm, mong từng ngày. Ruột gan ta khi nghĩ tới mẹ đều nóng như lửa đốt…

-Chàng có tin, Hoàng thượng sẽ cho thuyền ra, cứu viện cho ta?

-Tin.

-Chàng có tin, những của cải này khi giao cho Triều đình, Triều đình sẽ dùng nó để phụng sự chúng dân?

-Tin.

-Chàng có tin, Hoàng thượng không bỏ rơi chúng ta, sẽ nghe lời tấu trình của chàng, lo lắng đưa thuyền bè, lực lượng ra đảo, dựng làng, dựng ấp nơi này?

-Tin.

-Và tới khi đảo đông người, mọi thứ vào khuôn phép, chàng về?

-Đúng vậy.

-Sẽ mất bao nhiều ngày, bao nhiêu tháng hả chàng?

-Có thể ta và nàng không sống đến ngày đó.

-Trời ơi…

-Vì ta biết, sẽ tới lúc ở đây sẽ có chính biến, sẽ có giành giật nhau, sẽ có đầu rơi máu chảy. Và để giữ được cương giới, anh em ta, cả ta và nàng có thể sẽ chết… Nàng không sợ chứ?

-Em sợ…

-Hay lắm. Nàng nói sợ thì ta mới tin.

Lý Thắm đứng lên, nhìn xa xôi về phía đất liền:

-Nếu Hoàng thượng mang các nữ nhi trẻ đẹp ra đảo, liệu chàng có bỏ rơi em?

Đội Nhất nắm tay Lý Thắm:

-Nàng cuối cùng vẫn là nàng thôi, đàn bà…

Lý Thắm gục lên vai Đội Nhất, khóc.

Hoàng thượng suốt mấy ngày liên tục thiết triều.

Khi thì truyền Thánh chỉ vời mấy thầy địa lý, thiên văn giỏi nhất Kinh thành tới, yêu cầu xem xét lịch xưa lịch nay, xem xét hướng gió, xem xét hướng biển, xem xét mây trời, lại soi với hàng năm, lập ra cho được tháng nào, ngày nào thì sóng yên biển lặng để đặng giúp cho thuyền ra thuyền vào ở đảo cát vàng không bị gặp nguy khốn.

Khi thì truyền Thánh chỉ vời những con dân giỏi đóng thuyền bè cả nước về Kinh thành, phải tấu lên cho Bệ hạ cách đóng thuyền chắc nhất, chịu đựng sóng biển dẻo dai nhất, lại chở được người và của cải an toàn nhất.

Khi thì truyền Thánh chỉ, cho tuyển chọn những trai tráng quen nghề biển, khỏe mạnh, không được có vợ con để tránh lưu luyến tinh thần, ngày đêm luyện tập, tập họp cho được một đội thủy binh thiện chiến sẵn sàng vượt biển.

Khi thì truyền Thánh chỉ cho vời những thầy cúng có tiếng tăm nhất, bắt dâng sớ tấu lên cách cúng bái thần thánh, trời đất đặng phù hộ độ trì cho những thủy binh đi tới nơi về tới chốn.

Khi thì truyền Thánh chỉ vời những nho sinh học rộng tài cao, vào kinh thành, nghe theo lời kể của các thủy binh của Đội Nhất vừa trở về, làm thơ ca hò vè, vẽ bản đồ, vẽ dáng đảo, rồi cho lưu truyền nhanh chóng trong dân chúng để khích lệ lòng yêu nước.

Những ngọn nến Hoàng cung cháy đỏ suốt đêm trường. Bệ hạ không ngủ. Chỉ có quan quân vào vào ra ra tất bật.

Đại quan Lý Bật được giao giữ kho ngân khố của Triều đình, mấy đêm nay cũng không ngủ.

Ngài sai lính mở mấy thùng của cải lấy được từ đảo cát vàng về, nhìn nhìn ngắm ngắm. Mỗi đêm, ngài cứ sai lính mở thùng của cải ấy ra, nhìn nhìn ngắm ngắm. Ngài mân mê những dây vàng với cách thức chạm trỗ rất lạ mắt mà ngài chưa hề thấy, nhìn nhìn ngắm ngắm. Ngài lại nâng trên tay những vòng ngọc mà dù Hoàng thượng nước Việt muốn cũng không thể có, nhìn nhìn ngắm ngắm.

Ngài nhớ lại lời hai thủy binh của Đội Nhất kể, ngoài đảo ấy vẫn còn vô khối những của cải quý giá thế này. Ngài ngồi thừ người, luận rằng, cái khu vực đảo cát vàng ấy là ngã ba ngã bảy của giao thương thuyền bè, là vật chắn của sóng to biển động, nên bao đời rồi, chất ngất ở đấy không biết cơ man nào là của cải. Nếu cứ đào sâu xuống, nếu cứ mò tìm ra chân đảo, còn nhiều nữa, vô khối những xác thuyền chất đầy của cải đã chìm lấp. Ngài luận rằng, thuyền buôn đa phần sợ cướp biển, nên thường làm không mấy to để dễ di chuyển nhanh chóng, thế nên mới hay gặp nạn khi biển bão tố. Nếu đóng thuyền lớn, chọn ngày lành tháng tốt, trời yên biển lặng, chắc chắn an toàn.

Lý Bật đòi được gặp Bệ hạ.

Bệ hạ xem qua tờ sớ trình tấu của Lý Bật thì rất đỗi ngạc nhiên.

Lý Bật tâu:

-Bẩm Bệ hạ, những dòng chữ thần viết ra là thần dám đổi cả mạng sống… Xin Bệ hạ chuẩn tấu.

-Trẫm hiểu điều khanh nói.

-Suốt đời thần mang ơn mưa móc của Bệ hạ, hưởng vinh hoa phú quý từ Bệ hạ, nay thần tấu trình xin Bệ hạ cho thần được dẫn đoàn thuyền lớn của Triều đình ra đảo cát vàng, trước là để sung quân số, dàn người, dàn binh, lập nhà, lập ấp, giữ gìn cương giới, sau nữa là xin Bệ hạ cho Thần được làm Chúa đảo, phụng mệnh Bệ hạ giữ gìn trật tự, dẫn dắt con dân làm ăn, khai thác đặc sản, khai thác của cải, báu vật hàng năm nộp về Triều đình, sung vào Quốc khố.

-Trẫm hiểu điều khanh nói.

-Đội Nhất có công lớn với Triều đình, cắm được mốc giới nơi đảo cát vàng, không quản hiểm nguy, lại có công phát hiện ra nhiều kho báu, tấu xin Bệ hạ mời về cung, đặng ban cho tước hàm, đặng ban thưởng hào phóng để lấy tiếng thơm cho trăm họ.

-Trẫm hiểu điều khanh nói.

-Nếu được chuẩn tấu, thần xin phụng sự Bệ hạ, làm kẻ nộ lệ cho Bệ hạ, hàng năm dâng lên Bệ hạ nhiều báu vật…

-Nếu đảo cát vàng chỉ có ròng cát vàng, không của cải, liệu khanh có tình nguyện tấu trình để đi không?

-Bẩm Bệ hạ, cái đó…

-Ta nhớ, trước ta ban Thánh chỉ, kêu gọi các quan đại thần nêu gương, dẫn đầu đoàn thủy binh ra thám sát đảo cát vàng, cắm mốc giới, chưa thấy ai tình nguyện. Cuối cùng, ta phải cử Đội Nhất. Khanh nói sao với chuyện này?

-Bẩm Bệ hạ, cái đó…

-Khanh là quan đại thần trong nội cung, chăm coi ngân khố, ta rất tin tưởng. Nhưng mấy đêm nay ta nghe lính canh nói, đêm nào khanh cũng vào kho của cải vừa lấy được ở đảo cát vàng, nhìn ngắm, suy nghĩ, ấy là khanh đang suy nghĩ cái lợi cho bách tính, cho triều đình hay cho khanh?

-Bẩm Bệ hạ, cái đó…

-Nói vậy, nhưng ta vẫn chuẩn tấu về nguyện vọng của khanh xin tình nguyện ra nơi cương giới…

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

Hoàng thượng đứng dậy, dẫn đại thần vào phòng trong, đứng trước bản đồ nước Việt.

-Cương giới nước Việt gồm cả đất liền và biển cả. Biển cả nay có Đội Nhất. Ta cử khanh đi cương giới phía đất liền, nơi giáp với Bắc triều. Khanh vui lòng không?

-Bẩm Bệ hạ, cái đó…

Ngay tức khắc, đại quan nội chính hô to:

-Hoàng thượng ban Thánh chỉ, sai Đại thần Lý Bật đi giữ cương giới phía bắc. Tiếp chỉ.

Lý Bật luống cuống, quỳ thụp, mấp máy:

-Thần lĩnh chỉ.

Lý Bật cầm Thánh chỉ, lùi ra ngoài, lúc cúc bước dọc hành lang Đại điện, miệng lẩm bẩm: Ngu ngu ngu… ta ngu… ta ngu… ta ngu…

Gió rít lên từng cơn ghê rợn. Những ánh chớp chém xa xả xuống đảo cát, tưởng như chỉ trong chốc lát, đảo cát vàng bị băm nát bởi những lưỡi kiếm của trời. Cơn lốc cuốn cát xối ào ào, cát sắc nhọn, mù mịt, phút chốc phủ trùm và xô đẩy mọi vật khi nó cuốn qua. Sau những ánh chớp lửa là những tiếng sấm nổ rung chuyển. Đảo như tấm khiên yếu ớt cố chống chọi lại sức cuồng phong khốc liệt của đất trời, của bão biển.

Đêm bị xé nát, bị vo cuốn, bị làm biến dạng.

Tiếng gió thốc tới, ầm ầm, ào ào, không còn nghe thấy gì ngoài tiếng rít từng chập, từng hồi.

Mùi tanh tưởi nén chặt trong không gian. Gió lốc đào cát lên thành hố, đào cả những thứ bị chôn vùi trong cát bao nhiêu năm nay, cả những mảnh ván thuyền, cả những bộ xương người, cả những cái đầu lâu cũng bị hất tung lên cao, trong ánh chớp sáng, hàng chục, hàng trăm cái đầu lâu bị gió bão moi móc trong tầng tầng lớp lớp cát phủ rồi tung lên,  xoay lông lốc trong gió bão, hất vụt ra biển khơi, vùi dập trong những con sóng dữ dội đang lừng lững đuổi nhau, đạp lên nhau, chồm lên nhau thốc vào bờ đảo.

Từ hồi sáng, thấy ráng trời là lạ, khí trời có mùi nồng nồng, lại áp tai nghe, hình như tiếng biển có âm thanh gì đó đáng nghi ngờ, Đội Nhất chợt hiểu, sắp có lốc lớn. Ngài đã sai lũ trai tráng nhanh chóng chuyển các hòm gỗ của cải xuống những cái hố đào sâu sau vách các rạn san hô. Rồi lại sai mọi người đào hố trú ẩn. Trong cơn lốc, chỉ có cách giấu người trong các hốc đá, trong hố sâu, may ra mới thoát thân. Ngài lại sai Lý Thắm chuẩn bị thức ăn, nấu chín, gói ghém thành từng nắm, phân phát cho mọi người. Ngài lại sai các thủy binh mang vác những con ốc lớn chứa nước ngọt giấu kỹ sau những mô đá san hô lớn để dự trữ.

Giờ thì Đội Nhất đang ngồi cạnh Lý Thắm trong một hốc đá, choáng váng chứng kiến những cơn lốc biển khủng khiếp đang chà xát bạo liệt qua mặt đảo.

Có những ánh chớp xanh lè, nhìn như lưỡi của một con quái vật, từng dòng cát lớn bị cái lưỡi xanh lè ấy cuốn lại, cuốn ào ào, xoáy lông lốc trên mặt đảo.

Lý Thắm níu lấy người Đội Nhất, tóc nàng bị gió thổi bay thành búi, thành nắm:

-Nếu chàng không biết trước, giờ tất cả đã chết.

Đội Nhất an ủi:

-Không sao đâu. Nàng đừng lo. Ở đảo ngoài khơi xa là phải biết quen với những cơn lốc lớn. Nhưng vào mùa này mà có lốc lớn cũng hơi lạ.

Lý Thắm đột ngột chồm người về phía biển:

-Chàng nghe cho kỹ… Có tiếng la hét…

-Có tiếng la hét? Nàng không nhầm chứ?

-Chàng hãy lắng nghe… Trong tiếng gió rít… trong tiếng sóng, em nghe có tiếng la hét…

Đội Nhất bò lên khỏi miệng hố, áp sát tai xuống cát, mặt hướng về phía biển. Trong từng ánh chớp, ngài nhìn thấy bóng dáng vật vờ của một con thuyền.

Lý Thắm hỏi:

-Chàng thấy gì không?

-Có thuyền gặp nạn. Nàng gọi mọi người tới, nhanh lên.

Lý Thắm bò lên khỏi miệng hố, cố gắng áp sát người trên cát, tay bấu vào cái gì được là bấu, cố gắng trườn nhanh về ghềnh san hô bên kia tìm gặp các thủy binh. Nàng vẫn nghe tiếng Đội Nhất hét sau lưng: Bò sát xuống, bò sát xuống…

Đội Nhất trườn xuống mép đảo. Những con sóng lớn chồm qua người, mang theo cả rong rêu, cả cát biển. Đội Nhất nhướn hết mắt quan sát, đúng là có một con thuyền đang gặp nạn, con thuyền rất gần bờ, và trên đó, trong ánh chớp, lố nhố rất nhiều người.

Đội Nhất quay về hầm.

Ngài gặp các thủy binh do Lý Thắm đưa tới, đang đợi lệnh.

Đội Nhất nói:

-Có thuyền gặp nạn, phải cứu họ.

-Thuyền nước Việt hay thuyền ngoại bang?

-Thuyền nước nào cũng phải cứu. Có người gặp nạn không cứu không được. Nhanh tay anh em. Mỗi người cầm dây thừng, đầu dây thừng buộc chặt vào ghềnh đá, anh em cứ theo dây thừng ra biển, hướng về thuyền gặp nạn, gặp người là cứu, nhanh lên.

Lý Thắm kéo tay Đội Nhất:

-Chàng không được đi. Để anh em đi, chàng đừng đi.

Đội Nhất nói:

-Ta không đi thì ai theo? Nàng ngồi xuống. Đừng lo gì…

Đội Nhất xông lên trước. Anh em thủy binh bám theo. Hàng chục dây thừng lớn được níu chặt vào ghềnh đá. Mỗi người một dây thừng bung người ra chân sóng.

Lý Thắm nhìn.

Những bóng người bé nhỏ chơi vơi trên những sợi dây, đạp trên đỉnh những con sóng lớn, hướng về con thuyền đang gặp nạn.

Nàng nhìn thấy Đội Nhất.

Nàng suýt hét lên mấy lần khi Đội Nhất bị cuốn chặt trong những con sóng lừng lững, đen trùi trũi, quần quật xô tới chàng.

Lợi dụng ánh chớp, Đội Nhất quan sát anh em. Giỏi lắm, giỏi lắm anh em, cố lên chút nữa, sắp tới thuyền rồi. Con thuyền đang tơi tả. Những bóng người hoảng hốt, níu lấy cột buồm, níu lấy thân thuyền, la hét, kêu khóc, gào thét. Đội Nhất nghe tiếng lạ. Không phải người Việt.

Đội Nhất và anh em đã lần theo dây thừng vào tới thuyền. Mỗi người níu lấy hai người bị nạn, kéo vào bờ.

Cho tới khi người cuối cùng được đưa vào bờ thì con thuyền cũng bị tan vụn, nhanh chóng bị sóng biển nhấn chìm mất tung tích.

Như đêm qua biển không giông bão. Như đêm qua đảo không bị lốc biển hành hạ, giày xéo. Sáng, bình minh lên. Mặt biển xanh quá, yên lành quá.

Hai mươi tám người được cứu sống trên con thuyền gặp nạn phủ phục dưới chân Đội Nhất.

Chủ thuyền tên là Hứa Văn nước mắt ngắn, nước mắt dài, nhìn Đội Nhất:

-Ơn cứu mạng của Ngài và các thủy binh, chúng con biết làm chi trả được?

Đội Nhất ân cần:

-Kiểm lại người, còn sống cả không?

-Dạ bẩm… Mất 5 người..

Lý Thắm thở dài:

-Giông tố như vậy, sức chúng tôi không thể cứu hết được, thật lòng ân hận quá.

Hứa Văn mếu máo:

-Nhiều thuyền buôn của nước chúng tôi, trước đây qua khu vực này gặp bão lớn là chết hết. May bây giờ, có Ngài và các thủy binh chấn giữ đảo, cứu chúng tôi, thật không ơn gì kể xiết.

Đội Nhất hỏi:

-Từ đây về Bắc triều các người, đường biển xa xôi, thuyền ấy, người ấy, liệu có an toàn?

Hứa Văn nói:

-Năm nay lạ, có lốc biển vào lúc này hiếm gặp. Bình thường, tháng này biển yên nên chúng tôi mới dám theo thuyền buôn bán.

Đội Nhất dẫn Hứa Văn và đám tùy tùng tới một chân cột gỗ:

-Biết cái này chứ?

Hứa Văn gật gật đầu:

-Bẩm. Đây là mốc giới nước Việt của các ngài.

Đội Nhất khoát tay:

-Lâu nay không có ai ra giữ cương giới, nay Hoàng đế  sai ta ra đây, trùng trùng điệp điệp các đảo cát vàng kia là của người Việt. Ở Bắc triều, các người cũng biết vậy chứ?

Hứa Văn xun xoe:

-Dạ biết. Dân buôn đi biển lại càng phải biết. Dù lâu nay đảo không người, nhưng bản đồ của Bắc triều chúng con cũng đã chỉ rõ, trùng điệp đảo cát vàng được đánh dấu là của người Việt. Nay có Ngài ra trấn giữ, thuyền buôn của thần đi lại an tâm bội phần, vừa không lo cướp biển, vừa được cứu vớt khi gặp hoạn nạn. Về chuyến này, thần sẽ dâng sớ lên Hoàng đế Bắc triều, xin ghi công trạng Ngài và những thủy binh nước Việt trên đảo cát vàng đã cứu nạn, đã cưu mang thần dân Bắc triều lúc sóng to biển động. Xin đa tạ.

Lý Thắm dọn cho Hứa Văn và thuyền viên một bữa ăn ngon.

Đúng lúc biển lặng, gió thuận, xuất hiện một con thuyền buôn cùng hội với Hứa Văn đi ngang qua đảo, Đội Nhất giúp Hứa Văn liên lạc với thuyền bạn, đưa giúp Hứa Văn và đoàn thủy thủ cùng về Bắc Triều.

Đội Nhất tiễn Hứa Văn tận chân đảo.

Hứa Văn cảm kích:

-So với Bắc triều của thần, nước Việt bé lắm, nhưng nước Việt vươn được cánh tay dài ra biển, Bắc triều của thần thì không thế.

Đội Nhất ngạc nhiên:

-Ngươi nói vậy là có ý gì?

Hứa Văn cười:

-Không có ý gì. Hoàng đế Bắc triều mãi chăm chú trên đất liền, chưa nghĩ tới biển, không có ham hố gì vươn tay ra biển. Thần biết nước Việt bé, nhưng vươn ra biển là để giữ nước từ xa, bái phục bái phục.

Đội Nhất nói:

-Không kể là nước nhỏ, nước lớn, đã là đất đai tổ tiên thì một hạt cát, một gốc cây, một phiến đá cũng là chủ quyền, phải giữ.

-Chí phải. Chí phải. Đảo cát vàng của người Việt thì người Việt mang người ra giữ. Chí phải. Chí phải.

Đội Nhất thăm dò:

-Nói như ngươi, Bắc triều không lo phát triển thuyền binh?

Hứa Văn nhìn Đội Nhất:

-Thuyền binh ư? Biển cả mêng mông, thuyền buôn mới phải chăm chú, sắm thuyền binh để làm gì?

Đội Nhất gật đầu:

-Đúng thế. Đúng thế. Chỉ cần sắm thuyền buôn, không sắm thuyền binh. Hoàng đế Bắc triều của ngươi thật sự sáng suốt.

Hứa Văn cầm tay Đội Nhất:

-Thần là thần dân Bắc triều, đi trên biển buôn bán, gió lốc bão tố gặp phải dễ chết. May nhờ ơn cứu mạng của Đội Nhất, suốt đời thần không quên.

Đội Nhất nói:

-Nước Việt ta so với Bắc triều rất bé nhỏ, nhưng nhà ngươi thấy đấy, đôi khi gặp hiểm họa, người nước Việt bé nhỏ vẫn có thể cứu giúp người nước lớn.

Cả hai cùng cười.

Hứa Văn gửi tặng Đội Nhất cây kiếm ngắn:

-Coi như vật lưu giữ tình bạn, xin ngài đừng từ chối.

Đội Nhất cũng gửi tặng Hứa Văn con ốc bé, thổi kêu to, có khắc chữ Nước Việt:

-Ta cũng gửi nhà ngươi món quà trên đảo. Nhớ nhau thì thổi một tiếng. Thổi con ốc này để nhớ có một người bạn nước Việt trên đảo cát vàng.

-Hảo hảo. Hảo hảo.

Họ chia tay nhau.

Đội Nhất nhìn theo.

Hứa Văn nâng con ốc lên thổi một hơi. Âm thanh từ vỏ ốc vang rất xa, rất xa, vần vụ bốn phương tám hướng.

Lý Thắm nhận thấy mấy ngày nay Đội Nhất tâm trạng bất an.

Có những buổi trưa, dưới nắng, Đội Nhất đi ngắm nghía từng ghềnh đá san hô. Chàng dùng những thanh sắt đục đẽo đá san hô ra thành từng phiến vuông vắn, rồi xếp lên nhau, trầm ngâm.

Nhiều lần chàng đi thám sát các đảo, chuyến đi nào cũng kỹ càng. Rồi chàng vẽ bản đồ, đánh dấu đảo, miệt mài hàng đêm như vậy.

Có lần chàng sai  mấy thủy binh cùng mình đào nhiều hố cát trên đảo, tìm kiếm nước ngọt.

Gương mặt chàng bạc phơ trong nắng gió, ánh mắt chàng trĩu nặng nỗi lo lắng triền miên. Đêm đêm, gác đầu lên ngực Đội Nhất, Lý Thắm nghe rõ cả những tiếng thở dài của chàng đang muốn nén lại.

Không chịu được, Lý Thắm hỏi:

-Nếu chàng coi em như người mà chàng tin tưởng, hãy nói em biết, chàng đang lo lắng chuyện gì.

Đội Nhất bế nàng đặt ngồi gọn gàng trên bộ ngực vâm váp, nở căng, cuồn cuộn những thớ thịt, nói:

-Ta không tin nàng thì tin ai nữa.

-Vậy chàng nói đi.

-Nàng thấy không, đảo liên tục gặp lốc tố, liệu có lập được làng, lập ấp, rồi người già, rồi trẻ con, rồi sinh sống làm sao, nhà cửa làm sao…

-Em cũng thấy vậy.

-Từ khi ta cứu thuyền buôn của Hứa Văn, nói chuyện với hắn, vẻ ngoài thì hắn một hai thưa bẩm, nhưng sao cái vẻ mặt người Bắc triều cứ khiến ta thấy lành lạnh, thấy bất an.

Lý Thắm hồn nhiên:

-Em thấy Hứa Văn có gương mặt đẹp… Nhưng đôi mắt nhìn thì thật đáng sợ… Thật khó lường…

Đội Nhất nói:

-Hắn nói, về nước, hắn sẽ trình sớ lên Hoàng đế Bắc triều về việc đảo cát vàng đã có người Việt canh giữ. Hắn nói là sẽ làm. Vì hắn làm không phải vì hắn mà vì nước hắn. Lâu nay đảo hoang, Bắc triều chẳng ngó ngàng chi. Nay biết người Việt ta ra giữ đảo, liệu Bắc triều có ngồi yên?

Lý Thắm hiểu ra, chợt nói:

-Hứa Văn nói với em, nếu em muốn, hắn sẽ mang em về Bắc triều, cưới làm vợ, sống  cuộc đời trong vinh hoa phú quý.

Đội Nhất vùng bật dậy:

-Thật vậy sao?

Lý Thắm bị bàn tay Đội Nhất xô bật tới, làm nàng ngã sấp xuống.

Đội Nhất hỏi rồi ngồi im như một phiến đá.

Chàng ghen em? Lý Thắm ngắm nhìn Đội Nhất, nhẹ nhàng hỏi.

Đội Nhất im lặng.

-Em tưởng chàng đã không biết ghen?

Đội Nhất im lặng.

-Từ ngày gặp chàng, em chưa nghe chàng nói đến tiết hạnh, em chưa nghe chàng nói đến hai chữ chung thủy. Chàng còn lệnh cho em phải tới với những trai tráng khác. Giờ thì chàng ghen ư?

Đội Nhất im lặng. Lý Thắm thôi không nói gì nữa cũng im lặng. Chèn vào đó là tiếng sóng vỗ trễ nải, như đếm.

-Đàn ông không ai không quý hai chữ tiết hạnh-Đột ngột, Đội Nhất lên tiếng.

Lý Thắm ngạc nhiên:

-Chàng nói thế mà nghe được. Nếu quý tiết hạnh, nếu chàng muốn em là của chàng, sao chàng lệnh cho em phải đến với những chàng trai khác trên đảo?

Đội Nhất cứng cỏi:

-Tiết hạnh ở trong tim mình, ở trong lòng nàng. Ta nói nàng đến với trai tráng trên đảo là nghĩ tới tương lai, là cần những đứa con cho đảo. Đó là việc lớn, là đại sự. Tiết hạnh là khác, là nàng phải chung tình với ta, chung tình với anh em, không được chung tình với kẻ ngoại bang như Hứa Văn… Ta cần nàng tiết hạnh với nước Việt, nàng hiểu không?

Lý Thắm nắm tay Đội Nhất:

-Không. Em không bao giờ chung tình với ngoại bang. Người ta nói với em thế thì em kể lại thế, chàng không tin em ư?

Đội Nhất nói:

-Hắn gạ gẫm nàng như vậy là có ý gì?

-Thế chàng nói hắn có ý gì?

-Người Bắc triều là nước lớn. Khi đã là nước lớn thì không muốn có nước bên cạnh lớn mạnh. Nước Việt ta bé lắm, nếu không vững, dễ bị người Bắc triều thôn tính.

-Chàng lo mất đảo?

-Mất đảo không sợ bằng mất lòng tin.

-Em không hiểu.

-Mất đảo có thể lấy lại. Mất lòng tin vào Triều đình, vào Bệ hạ là mất hết.

Đội Nhất suy nghĩ rồi nói tiếp:

-Ta tính thế này. Phải viết tấu trình lên Hoàng thượng. Phải nhanh chóng tìm cách giữ đảo. Nhanh chóng sung quân ra đảo. Nhìn vào ánh mắt của Hứa Văn, ta đoán được, kiểu chi Bắc triều cũng nhòm ngó đảo cát vàng này, nếu không âm mưu cướp đảo thì cũng làm khó ta. Ngoài này xa xôi, ta trong tay không có binh lực. Nếu Hứa Văn nhận ra đảo này như là nơi để dừng chân, như là nơi để trở thành trung gian đầu mối giao thương trên biển, đảo dễ mất.

-Chàng đừng làm em sợ.

-Ta ăn bổng lộc triều đình, phải biết nhìn xa trông rộng, đặng tấu lên Hoàng thượng để có cách giữ vững cương giới. Việc của ta không phải chỉ lo thu vén của cải sản vật gửi vào cho Hoàng thượng, mà còn phải biết cách gây dựng ở đây cái phên dậu vững vàng, cho hôm nay, cho con cháu.

-Bây giờ chàng tính sao?

-Ta vẫn không biết Hoàng thượng đã nhận được tin tức gì của ta không? Xa xôi cách trở, tin đi không hồi đáp, đó là cái khó…

-Hai tháng rồi không tin tức chàng ạ

-Đúng vậy… Đã tới mùa biển lặng, sóng êm, nếu không có thuyền bè do Bệ hạ cử ra cứu viện, ta e là tin tức của ta đã không tới được tay Hoàng thượng…

-Nhưng nếu Hoàng thượng cho sung người, chàng tính lo liệu cuộc sống sao đây… Đảo hoang như thế… thiếu thốn và nguy hiểm

Đội Nhất sôi nổi:

-Ta sẽ tổ chức thành làng, thành ấp, thành đội chài lưới, đội tìm kiếm sản vật, nhà cửa thì làm bằng đá san hô, làm sâu xuống cát tránh bão. Rồi lo đóng thuyền lớn, có thể giao thương qua lại. Đảo phải đông người, phải có thủy binh, phải có dân binh, phải có đàn bà, trẻ con, có vậy người ở lại mới yên, người ở xa cũng yên, rồi mở rộng giao thương với các nước lân bang theo đường biển. Các nước lân bang thấy đảo đông đúc, ổn định, họ sẽ thôi nhòm ngó, thôi mưu loạn, thế ấy là phên dậu vững vàng. Nàng hiểu chứ?

-Mấy tháng nữa em sinh con rồi chàng ạ- Lý Thắm nói nhỏ.

Đội Nhất bế nàng đặt vào lòng mình.

Đội Nhất bất chợt cất giọng ê a hát.

-Mấy tháng nữa em sinh con rồi chàng ạ- Lý Thắm nhắc lại.

-Ý nàng muốn ta cho nàng vào đất liền?

-Không. Em muốn cho chàng biết thôi.

-Nàng phải vào đất liền.

-Không. Em muốn sinh con ở đây.

-Nàng nói thật chứ? Nếu sinh con ở đây, nàng phải biết là rất cực, thiếu thốn và nguy hiểm cho con cái.

-Em biết. Nhưng nếu em không sinh con ở đây, liệu sau này, có ai dám ở đây để sinh con?

Đội Nhất ghì lấy Lý Thắm:

-Ta sẽ bảo vệ con của nàng. Nàng tin chứ?

Lý Thắm ngả đầu vào ngực Đội Nhất, lắng nghe tiếng tim đập mạnh mẽ trong lồng ngực của chàng, nàng mỉm cười. Người đàn bà có hạnh phúc và bình yên nào hơn khi được tựa cuộc đời mình lên một bộ ngực đàn ông mạnh mẽ như Đội Nhất.

Hứa Văn dâng tấu lên Hoàng thượng Bắc triều.

-Thưa Bệ hạ, thần dân thấp kém, chỉ lo buôn bán, nay có tin mới về việc người Việt đã trấn giữ đảo cát vàng, nay tấu lên Hoàng thượng đặng xem xét.

-Xem xét cái gì? Hoàng Thượng hỏi.

-Bẩm Bệ hạ… Dải đảo ấy ở nơi hiểm yếu. Về nước Việt cũng không bao xa mà về Chính quốc ta cũng không bao xa…

-Nhà ngươi nói vậy là có ý xúi ta lấy đảo cát vàng kia?

-Bẩm bệ hạ đúng như vậy.

-Từ lâu đời nay, dải đảo ấy trong cương giới bản đồ đã thuộc người Việt, cớ sao ta lấy?

-Nước Việt bé nhỏ, Bắc triều ta là nước lớn, ta muốn làm gì không được thưa Bệ hạ.

Hoàng thượng cả cười:

-Nhà ngươi nhắc ta nhớ câu: ngoài biển khơi, cá lớn nuốt cá bé.

-Bẩm Bệ hạ, đảo cát vàng còn là nơi nhiều sản vật quý giá, còn là nơi có nhiều vàng ngọc của lũ buôn bán của nhiều nước bị gió bão hủy hoại thuyền bè trôi dạt vào, còn là nơi án ngữ cả vùng biển lớn. Bắc triều ta dù rộng lớn, nhưng phía biển còn để ngỏ, thưa Bệ hạ.

Quan đại thần tiếp lời:

-Bẩm Bệ hạ, Hoàng đế nhiều đời của Bắc triều ta đều chú tâm ở đất liền, bỏ rơi cương giới ngoài biển lớn. Nước Việt tuy bé nhưng khôn ngoan, án ngữ cương giới ngoài biển khơi là đón nhiều cơ hội, có nhiều cơ hội giao thương thì nước bé sẽ dần thành nước lớn, e bất lợi cho Chính quốc ta.

Lại một Quan đại thần nữa tiếp lời:

-Cả ngàn năm rồi, nước Việt đã là chư hầu của ta. Chỉ mấy niên đại gần đây, nước Việt tách làm riêng, cõi riêng, quốc thổ riêng, bé nhỏ thế mà khôn ngoan, vươn tay ra biển khơi là khôn ngoan, án ngữ nhiều đảo ngoài khơi xa là khôn ngoan thưa Bệ hạ.

Hoàng thượng hỏi:

-Ta nghe, hoàng đế Nhà Lý nước Việt rất được lòng dân tin yêu, nói một câu, bách tính muôn nhà nghe lời, đồng lòng trăm họ?

-Bẩm Bệ hạ, quả đúng thế.

-Ta lại nghe, từ khi nước Việt dành được quyền tách khỏi Bắc triều, hàng năm vẫn không quên bang giao với ta, có gì đẹp, có gì quý cũng nhớ đến Triều đình ta, nước bé mà biết nước bé để yên ổn làm ăn, đó là cái khôn của người Việt. Nước lớn như Bắc triều ta mà tới đâu cũng vỗ ngực khoe là nước lớn là cái ngu si của Bắc triều. Sống mà để các nước lân bang nghi ngờ, không mấy tin tưởng, e rằng dễ bị cô lập.

-Bẩm Bệ hạ, Bệ hạ anh minh.

-Người Việt có câu, biết đủ là đủ, ấy là cái khôn của người Việt. Nước bé mà đồng lòng, trăm họ một lời, cái bé ấy là cốt cách, là đá sỏi, cứng lắm, chắc lắm. Bắc triều ta thường khoe đất rộng, người đông, lắm mưu nhiều kế, thế cũng tốt. Nhưng để các nước lân bang lúc nào cũng nghĩ ta đất rộng người đông dễ bề ăn hiếp, lúc nào cũng nghĩ Bắc triều ta lắm mưu nhiều kế, phỏng như vậy nào có hay ho?

-Bệ hạ anh minh.

-Giữa kẻ đi cướp với kẻ giữ của, ai đồng lòng hơn ai? Thay không cướp mà vẫn có, không mang tiếng mà vẫn được, không gây chiến mà vẫn thu về nhiều thứ, chọn cái nào?

-Bẩm Bệ hạ, lời dạy của Bệ hạ thần dân không quên.

-Nay người Việt đã cho người ra trấn giữ đảo của họ ngoài biển khơi, cái đó có lợi cho họ, có lợi cả cho ta. Suy cho rộng, có lợi cho ta nhiều hơn có lợi cho họ. Ta chẳng mất gì mà được nhiều. Nước Việt giữ đảo, giữa biển khơi nhiều hiểm họa, đổi mạng sống lấy bình yên, ta không mất gì mà được lắm.

-Bẩm Bệ hạ, lời Bệ hạ cao siêu quá, thần dân chưa hiểu.

-Nay ta truyền chỉ, cho sứ thần sang nước Việt, xin Hoàng đế nước Việt cho Bắc triều ta được giúp sức thêm cho nước Việt để giữ cương giới ngoài đảo, cần người cho người, cần vàng bạc cho vàng bạc, cần gỗ ván, vải vóc cho gỗ ván vải vóc. Ta cũng thấy, Hứa Văn trung thành với Chính quốc, lại quen đường biển, không sợ hiểm nguy, một lòng vì ta, vì trăm họ, nay ta ban Thánh chỉ sắc phong cho Hứa Văn làm đại quan trấn ải Biển Nam hải.

Hứa Văn quỳ sụp:

-Tạ ơn Hoàng thượng.

Hoàng Thượng nhìn các quan đại thần:

-Cho các ngươi lui. Ta muốn gặp riêng Hứa Văn bàn thêm chuyện cơ mật.

Các quan lui cả. Hứa Văn được Hoàng thượng cho vời vào cung cấm.

Hoàng thượng hỏi:

-Nếu Bắc triều ta lấy được cả dải đảo cát vàng nước Việt, ta được gì, ta mất gì?

Hứa Văn đáp:

-Bẩm Bệ hạ. Được là được vị trí án ngữ cả vùng biển lớn. Được là được quyền cai trị, quyền kiểm soát, quyền giao lưu, quyền phong tỏa rộng lớn ra phía đông, xuống phía nam. Được là được sản vật quý giá, tài nguyên vô khối, chủ động giám sát thuyền bè của các nước lân bang. Mất là mất lòng dân nước Việt, sinh thù hằn. Mất là mất niềm tin cậy của nhiều nước lân bang, sẽ coi ta là kẻ đi cướp đất đai các nước giềng, vì thế các nước làng giềng ắt sẽ bắt tay nhau, một nước bé là nước bé, nhiều nước bé đứng bên nhau thành đại nước lớn.

Hoàng thượng hài lòng:

-Khá khen cho nhà ngươi nói được nhiều điều mà ta hằng suy nghĩ. Ta cướp mà người bị cướp không la vẫn hoan hỉ ôm lấy ta tung hô hảo hảo, ấy là cướp khôn. Ta đâm nhát dao vào đối phương mà thiên hạ không nghe kẻ bị ta đâm kêu la thảm thiết, vẫn vang vang hai chữ hảo hảo, ấy là giết người khôn khéo. Muốn giành đất đai nước Việt, đừng dùng binh đao, đừng dùng thế mạnh, mà càng phải keo sơn với nước Việt, hữu hảo với nước Việt, đặng làm cho nước Việt coi ta là bạn, là anh em… Đặng làm cho nước Việt tin cậy. Đến ngày người Bắc triều ta sống chung với người nước Việt, sinh con đẻ cái tại nước Việt, ấy là khi nước Việt thuộc ta…

-Bẩm Bệ hạ, thần hiểu.

-Đừng nghĩ tới dân chúng nước Việt, nên nghĩ nhiều tới triều đình Việt, quy phục được triều đình là quy phục bách tính.

-Bẩm Bệ hạ đúng thế.

-Há lẽ Bắc triều ta rộng lớn, giàu có mà không có quà cáp, không có báu vật làm xiêu lòng Triều đình nước Việt sao?

-Bẩm Bệ hạ đúng thế.

-Há lẽ Bắc triều ta không làm gì nổi cho nước Việt tin ta và nước Việt là anh em, liền môi, liền miệng, sát chân, cạnh tay sao?

-Bẩm Bệ hạ, thần hiểu ý Bệ hạ.

-Đừng nóng vội. Chỉ cần biết ta phải lấy nước Việt, lấy vài hòn đảo là nhỏ, lấy cả nước Việt là việc lớn, năm năm, trăm năm, ngàn năm, đừng quên điều đó. Lấy rồi mà nước Việt vẫn phải tung hô hảo hảo, ấy là dụng ý của ta. Nay ta già rồi, nhưng các Hoàng đế nối ngôi, vẫn cứ thế mà làm. Bắc triều ta đã lớn, nhưng biết thế nào là lớn, vì thế cứ phải mở rộng cương giới, nhưng mở rộng cương giới thì phải khôn ngoan thế, lấy mà như không lấy, cướp mà vẫn chịu cho cướp, rồi tới ngày, dù mang tên nước Việt nhưng tất cả đều thuộc về ta. Có tên nước đã chắc gì có độc lập, hiểu không?

Hứa Văn cúi đầu:

-Lời Bệ hạ dạy, con ghi lòng tạc dạ.

Lúc ấy nghe có tiếng quan đại thần nói vọng vào:

-Bẩm Bệ hạ có quan đại thần nước Việt tên là Lý Bật xin yết kiến.

Lý Bật được quan nội cung dẫn thẳng vào gặp Hoàng đế Bắc triều.

Hoàng đế Bắc triều im lặng ngồi ngắm Lý Bật từ đầu tới chân. Lý Bật đầu cúi, tay khoanh, cố gắng đứng thẳng nhưng chân run, đầu mũi giày lật bật không yên.

-Bẩm Bệ hạ, đây là Lý Bật, quan đại thần nước Việt, giữ cương giới phía bắc giáp với Chính quốc ta.

-Ta biết người này- Hoàng thượng nói rồi sai quan đại thần- Nhà ngươi bước tới, kiểm tra chân Lý Bật xem nào.

Đại thần bước tới, vén ống quần của Lý Bật, đặt bàn tay lên bàn chân Lý Bật, nghiêm trang nói:

-Bẩm Bệ hạ… Bàn chân của đại thần Lý Bật run lắm

-Ta biết. Người ngay thẳng, chân không run, mắt không nhìn xuống.

Lý Bật hốt hoảng:

-Bẩm Bệ hạ… Bệ hạ đừng nghĩ sai cho thần… Thần dù là quan đại thần nước Việt nhưng xin phụng mệnh Bệ hạ, xin dâng nộp cho Bệ hạ bản đồ cương giới cả đất liền và biển đảo của nước Việt cho Bệ hạ.

Hoàng thượng hỏi:

-Nhà ngươi tự nguyện?

Lý Bật lắp bắp:

-Dạ dạ… Bẩm Bệ hạ, thần tự nguyện.

Hoàng thượng lại hỏi:

-Ngươi là đại thần nước Việt, can cớ chi lại tự nguyện với ta?

Lý Bật liến láu:

-Bẩm Bệ hạ. Dù thần là quan quân nước Việt, nhưng theo gia phả, từ ngày xưa, cha ông thần là người Bắc triều, là thần dân của Bệ hạ.

Hoàng thượng lại hỏi:

-Ngươi có thù hằn gì với nước Việt?

Lý Bật tâu:

-Bẩm Bệ hạ, thù hằn thì không, hoàng đế nước Việt vẫn cho thần bổng lộc đầy đủ. Nhưng thần trộm nghĩ, mình có tài cán, có sức vóc, chi bằng mang thân đi phụng sự Bắc triều, đặng nhìn thấy tương lai xán lạn, còn hơn đi phục vụ cho một nước Việt bé nhỏ, được mất không biết khi nào, sống chết không biết khi nào…

Hoàng thượng và các quan trong triều nhìn nhau.

Lý Bật tâu:

-Thần biết, sớm muộn chi nước Việt cũng trở thành chư hầu như ngàn năm trước nay vẫn là chư hầu Bắc triều. Chi bằng xin lập công trước, dâng nộp bản đồ cơ mật cương giới trên đất liền, trên biển đảo cho Hoàng thượng, đặng hy vọng Hoàng thượng mau mau lấy nước Việt…

Hoàng thượng hỏi:

-Nếu ta lấy nước Việt, thì nhà ngươi được gì?

Lý Bật:

-Dạ… Bẩm Bệ hạ, cái đó…

Hoàng thượng lại cùng các quan trong triều nhìn nhau.

Lý Bật nói:

-Có công thì có thưởng. Chắc Hoàng thượng không eo hẹp. Thần trộm nghĩ, những bản đồ, những sơ đồ chỉ dẫn đầy đủ vị trí phòng thủ của nước Việt nơi cương giới cũng đủ Hoàng thượng cảm kích mà ban thưởng.

Hoàng thượng gật gù:

-Phải… Bắc triều ta lấy thưởng phạt làm đối nhân xử thế. Công như nhà ngươi, thưởng bao nhiêu cũng không đủ, nhà ngươi có thể xin ta cái gì cứ xin…

Lý Bật hoan hỉ:

-Bẩm Hoàng thượng… Thần dù tài hèn nhưng so với Hoàng thượng nước Việt thì như so cây cổ thụ với cỏ dại. Hoàng thượng nước Việt nhất thời được lòng dân nhưng rồi chẳng mấy lúc mà bị phế truất. Chi bằng xin Hoàng thượng sau khi lấy nước Việt, sắc phong cho thần Hoàng đế chư hầu, thay thế Hoàng thượng nước Việt, được vậy, thần cung cúc phụng sự Hoàng thượng, phụng sự Bắc triều.

Hoàng thượng nhíu trán:

-Người đang làm quan đại thần nước Việt, bỗng chốc dâng nộp bản đồ cơ mật lên ta, rồi xúi ta lấy nước Việt, rồi xin ta phong làm Hoàng đế Chư hầu, ngươi bán nước Việt được thì bán Bắc triều được, ta nói vậy không sai chứ? Các khanh thấy sao?

Các quan đại thần đồng thanh:

-Hoàng thượng sáng suốt.

Hoàng thượng lại nói:

-Ta đang làm nhiều việc để Bắc triều và nước Việt hữu hảo, thuận ý trời, thuận bách tính trăm họ, can cớ chi ta lại đi xâm lược nước Việt. Ngươi là quan đại thần nước Việt lại nghĩ Bắc triều ta có mưu lấy nước Việt, ta hỏi ngươi, ý này ở nước Việt bách tính có ai nghĩ như ngươi không?

Lý Bật lúng túng:

-Bẩm Bệ hạ, cái đó…

Hoàng thượng và các quan đại thần lại nhìn nhau.

Hoàng thượng nói:

-Xét tội ngươi bán nước Việt, đáng chém đầu tại đây, nhưng lại xét ngươi có ý muốn phụng sự ta, nên ta tha tội chết.

Lý Bật tái mặt:

-Bẩm bệ hạ…

-Trên thế gian, không hoàng đế nước nào lại đi thu nhận kẻ tạo phản. Ta nghĩ, nếu ngươi là thần dân của ta, e thần dân của ta sẽ băm ngươi ra trăm mảnh.

Lý Bật sụp lạy:

-Cúi xin Bệ hạ soi xét, quả thực con muốn quay đầu về Chính quốc.

Hoàng thượng nói tiếp:

-Nhưng nếu ta biết ngươi tạo phản mà không giao nộp cho Hoàng đế nước Việt, phỏng tình hữu hảo hai nước nào có hay ho.

Lý Bật đau khổ:

-Trời ơi, Bệ hạ…

Hai tên lính xách tay lôi Lý Bật ra.

Hoàng thượng nói với các quan đại thần:

-Các khanh thấy ta làm vậy đúng hay sai?

Quan đại thần:

-Bệ hạ anh minh.

Hoàng thượng nói:

-Trong lúc này, muốn nước Việt tin ta, thì ta phải nộp thằng phản loạn này cho nước Việt. Các khanh thấy sao?

-Bẩm Bệ hạ, đúng thế.

-Lý Bật tham lam tiền của, dâng nộp cơ mật lấy thưởng, lại tham lam đòi ta sắc phong Hoàng đế Chư hầu, hạng người này nguy hiểm, nước Việt có nó cũng nguy hiểm mà Bắc triều ta nhận nó cũng thậm nguy.

-Bẩm Bệ hạ, đúng thế.

-Bắc triều hay nước Việt, hay nước nào cũng vậy, có kẻ trung chính và cả những kẻ tạo phản. Ta giao Lý Bật cho nước Việt, hẳn Hoàng đế nhà Lý sẽ cảm kích.

-Bẩm Bệ hạ đúng vậy.

-Muốn lấy nước Việt, hãy để cho nước Việt cảm kích ta, cảm kích rồi mới chịu nghe ta khuyên bảo, đó là ý ta vậy.

Quan đại thần nhìn nhau, gật gù.

Hoàng thượng hạ chỉ:

-Cho lính cơ mật đóng cũi, nhốt Lý Bật vào trong đó, rồi giao sứ thần mang hắn về trả cho nước Việt.

-Tuân chỉ.

Hoàng thượng cho các quan lui ra hết, chỉ còn một quan đại thần phụ trách cơ mật của Triều đình ở lại.

Hoàng thượng nói:

-Một mặt cho sứ thần nhanh chóng mang Lý Bật giao nộp cho nước Việt, một mặt sai các Quan đầu tỉnh ở cương giới phía Bắc, theo bản đồ bố phòng của nước Việt mà Lý Bật dâng tặng, điều quân xâm lấn, đánh bật quân nước Việt càng sâu càng tốt, lấy thêm một thẻo đất cũng lấy, lấy thêm một gốc cây cũng lấy. Bản đồ cơ mật của Lý Bật rất hay, ta chỉ cần đánh úp là quân nước Việt hoảng loạn bỏ chạy. Rồi nếu nước Việt lên tiếng phản đối, ta sẽ ra sắc chỉ quở trách chính quyền địa phương.

Quan cơ mật:

-Nhưng thần nghĩ, nếu làm thế e Hoàng đế nước Việt…

-Ta hiểu ý khanh. Chuyện va chạm nơi cương giới thời nào không có. Hoàng đế nước Việt cảm kích ta chỉ mặt một tên đại thần phản loạn, há phiền lòng mấy vụ lấn cương giới lẻ tẻ kia sao?

-Hoàng thượng sáng suốt.

-Lấn đất cương giới, chưa có thời cơ thì chưa làm to, mỗi ngày một tí, mỗi tháng một tí, mỗi năm một tí, êm êm thuận thuận, làm thế không thành việc lớn quốc gia thì quan hệ hai nước vẫn muôn năm hữu hảo..

-Hoàng thượng sáng suốt.

-Thôi, khanh nhanh chóng lên đường.

Lý Bật bị đẩy vào cũi gỗ ngay trong đêm. Lính lại để cũi gỗ giữa trời, ngay sân Hoàng cung. Lại đặt bên cạnh cũi một cái bánh bao, một miếng thịt mỡ. Lý Bật ngồi, mắt nhìn cái bánh bao. Không lấy ăn thì đói. Lấy ăn thì cảm thấy thẹn lòng. Đường đường một đấng quan đại thần, bổng lộc, người hầu kẻ hạ, giờ đột nhiên ngồi cũi, như con chó, miếng ăn cũng ngang suất chó.

Lý Bật rủa cha. Cha hắn dạy, khi muốn lên chức thì nằm rạp xuống mà trườn, người ta nói hay thì mình phải nói hay, người ta nói thối thì mình phải tung hứng nói thối, không được sai lời. Khi đã lên chức cao thì phải có chí lên cao hơn. Muốn lên cao hơn thì phải biết trấn áp thằng ở dưới. Dân Việt vốn như con cua trong rổ. Cua trong rổ không cần che đậy miệng rổ mà chẳng con nào chui được ra ngoài. Con này mới chui lên miệng, mấy con kia đã vội kéo xuống, cứ vậy luẩn quẩn trong rổ, không con nào vươn được để thoát thân. Muốn thế thì phải nhờ vào ngoại bang. Có ngoại bang kéo ra khỏi rổ thì mới mong làm vương làm tướng. Nay theo lời cha, hắn nhờ đến ngoại bang, ai dè ngoại bang còn hơn cả cua trong rổ, lại đè dúi hắn xuống để giả bộ làm ơn làm phúc. Thật đời khốn nạn.

Lý Bật rủa mình. Tham vàng bạc châu báu thì ai không tham, nhưng hắn đã tham sai. Hắn tham mà vác xác sang Bắc triều, thành tội tạo phản. Nay được đưa về nước Việt, cái chết là cầm chắc. Chi bằng cứ tự sát, còn để lại chút danh, rằng quan đại thần Lý Bật bị Bắc triều bắt, một mực không khai báo, một mực trung chính với Hoàng đế nước Việt, chết vậy là chết vinh. Chết vì tạo phản thì còn tru di tam tộc.

Lý Bật rủa thầy tướng số. Ngày sinh hắn ra, mẹ hắn cho vời thầy xem tướng đến, thầy phán, sau này Lý Bật chức thấp cũng quan đại thần, chức to làm tới Hoàng đế. Hắn nhớ mãi, nhớ mãi, nhớ mãi nên mới nông nỗi này, nếu có làm hoàng đế e cũng là hoàng đế cho lũ chó nuôi không hơn không kém.

Hứa Văn nghe tin Hoàng thượng cho nhốt Lý Bật vào cũi bắt mang về nước Việt trị tội tạo phản thì lấy làm tò mò. Nửa đêm, Hứa Văn sai lính dẫn mình ra sân Hoàng cung, ngồi bên cũi nhốt Lý Bật.

Hứa Văn ngắm nghía Lý Bật, lại cầm tay soi chỉ, lại xách tai coi dáng, lại kéo tóc coi lông mày.

Lý Bật cáu:

-Thân phận ta đáng như phận chó lắm sao?

Hứa Văn cả cười:

-Là đại trượng phu ai bất mãn như thế.

Lý Bật trừng mắt:

-Hoàng thượng các người trở mặt, há đáng mặt trượng phu sao?

Hứa Văn nói:

-Sao ngươi không tìm cách chi đàng hoàng lại tìm cách tạo phản?

Lý Bật trố mắt:

-Ngươi nói vậy là có ý gì?

Hứa Văn nói:

-Chọn đường tạo phản là chọn đường chết. Chi bằng ngươi cúi xin Bệ hạ soi xét, đừng xin bổng lộc, đừng xin chức tước, chỉ xin mạng sống, Bệ hạ ta bao dung như trời biển, chắc sẽ thuận lòng…

Lý Bật sụp lạy trong cũi:

-Xin một lạy giúp cho kẻ hạ thần này thoát chết.

Hứa Văn nhìn Lý Bật rồi đưa bàn tay mình ra:

-Bàn tay này lật bên này, lật bên kia dễ. Hoàng thượng ta nói ra lời rồi thu lại lời cũng dễ như lật bàn tay vậy.

Và cười.

Lý Bật trố mắt nhìn.

Hứa Văn phe phẩy cái quạt lông ngỗng, đứng dậy, bước đi cười ha hả.

Tiếng cười của Hứa Văn khiến Lý Bật co rúm, lạnh toát, tưởng như mình đang được đặt vào một cỗ quan tài.

Cho tới khi con ngựa chiến của Hoàng Giáp lọt vào được cổng thành thì cả người và ngựa gần như kiệt sức.

Nhìn thấy cái lá cờ báo việc đại sự từ cương giới, lính canh cổng thành vội vã mở cổng.

Hoàng thượng cũng nhận được tin khẩn cấp từ Quan đại thần cơ mật.

Hoàng Giáp bước liêu xiêu lên từng bậc thềm nội điện. Cho tới khi chàng đặt chân vào điện yết triều, Hoàng Giáp quỵ xuống, vẫn yếu ớt kịp hô Hoàng thượng vạn tuế.

Hoàng thượng nhà Lý sai lính chăm sóc Hoàng Giáp khẩn cấp. Hoàng Giáp tạ ơn và xua tay:

-Bẩm Bệ hạ, việc cấp báo này quan trọng hơn thể xác của thần…

Hoàng thượng ân cần:

-Khanh đi ngựa mấy ngày đường không nghỉ từ cương giới về đây, hẳn có chuyện chi nghiêm trọng? Lý Bật của ta đâu?

Hoàng Giáp:

-Bẩm Bệ hạ… Lý Bật tạo phản, đang đêm vượt biên giới mang bản đồ cơ mật dâng cho Hoàng thượng Bắc triều… Thần biết được việc này thì đã không kịp đuổi theo Lý Bật. Thần chỉ còn cách quay về cấp báo cho Bệ hạ, đặng soi xét…

Hoàng thượng ra hiệu cho quan quân ra cả, chỉ còn đại quan cơ mật ở lại. Hoàng thượng hỏi Hoàng Giáp:

-Bản đồ bố phòng cương giới của ta đã bị Lý Bật lấy đi, khanh chắc chứ?

-Bẩm Bệ hạ, đó cũng là thứ Lý Bật đổi lấy vinh hoa phú quý cho việc tạo phản của mình.

Quan cơ mật tâu:

-Bẩm Bệ hạ, nếu quân Bắc triều có được vị trí bố phòng của ta, sớm muộn chi cũng cho quân đánh úp, lấn đất. Cương giới xa xôi, địa hình hiểm trở, binh lực ta còn yếu, nếu quân Bắc triều đánh chiếm bất ngờ, binh lính ắt sẽ hoảng loạn mà bỏ cương giới, thậm nguy thậm nguy thưa Bệ hạ.

Hoàng Giáp tâu:

-Bẩm Bệ hạ… Địa hình cương giới hiểm trở, Bệ hạ đã cho bố phòng rất kín kẽ, rất lợi hại, nhưng nếu cái lợi hại ấy rơi vào tay Bắc triều, binh lực ta e khó lòng trụ vững. Quân Bắc triều vốn lấy đông làm lực, coi mạng người như thân trâu ngựa, chết bao nhiêu cũng không nao núng, ta ít người lại bị bất ngờ, e nguy cấp. Thần cố chạy về báo cho Bệ hạ, mau mau tìm cách đáp trả. Tội Lý Bật trị lúc nào cũng được, bảo vệ cương giới mới là cấp bách, xin Bệ hạ soi xét.

Hoàng thượng nhìn bản đồ:

-Ta hiểu ý các khanh. Nay tình hình đã thế này, ta phải tương kế tựu kế.

Đoạn Hoàng thượng kéo Quan cơ mật cùng Hoàng Giáp vào phòng riêng, bàn bạc, viết viết kẻ kẻ, rồi sai cho xe ngựa đưa Hoàng Giáp nhanh chóng trở lại cương giới ngay trong đêm, đồng thời bí mật điều thêm 3000 binh mã lặng lẽ đi đường tắt dồn hết về cương giới.

Điều binh xong cũng đã tới canh hai. Quan đại thần cơ mật tấu:

-Xin Hoàng thượng nghỉ ngơi. Việc ứng phó ở cương giới, theo thần thế là kịp thời. Hoàng thượng sáng suốt.

Hoàng thượng im lặng tư lự:

-Nếu Bắc triều có được bản đồ cơ mật, đánh úp ta để lấn đất, ta chống trả là một nhẽ, mà lần này giăng bẫy thì sói rừng sẽ sập bẫy, chuyện này không khó. Khó là vẫn vừa phải dẹp loạn ở cương giới, nhưng vẫn phải giữ quan hệ hai nước. Nước Việt ta đang yếu, trải qua nhiều binh đao, cần thời gian củng cố sức dân trăm họ.

Quan cơ mật:

-Bẩm Bệ hạ. Nhưng nếu nhân cơ hội này họ quyết lấy nước ta thì sao?

Hoàng thượng nói:

-Nếu họ quyết lấy nước ta thì đó là lẽ khác, khi đó chẳng cẩn thánh chỉ, bách tính trăm họ sẽ sống chết giữ cương giới, người Việt ta là vậy, chịu nhún nhường để mong hòa hiếu nhưng không khi nào chịu khuất phục.

Quan cơ mật lại tâu:

-Từ khi Hoàng thượng lên ngôi, đất nước bình an, trăm nhà một lòng theo Bệ hạ. Nước Việt bé nhưng không yếu, bách tính còn nghèo nhưng không hèn, quen đánh trận nhưng không muốn gây chiến, muôn lòng hướng về Bệ hạ. Cái mạnh của nước Việt nằm ở cái mạnh của Bệ hạ, càng lúc đất nước gian nan, dân nước Việt đều hướng về Bệ hạ. Bệ hạ đã gieo được niềm tin trong lòng bách tính thì phải giữ niềm tin ấy, lòng dân khi biết Bệ hạ làm gì cũng vì danh dự nước Việt, cũng vì tổ tiên nước Việt, hẳn bách tính chết cũng theo Bệ hạ đến cùng.

Hoàng thượng:

-Lý Bật tạo phản, nối giáo cho ngoại bang, tội này tru di tam tộc. Ta buồn đau vì bách tính sẽ nghĩ gì về quan đại thần của ta, đến như lên tới quan đại thần còn bán nước hại dân thì thử hỏi, lòng dân sao yên ổn. Tội này ta nhận với muôn dân trăm họ. Ta mù mắt không thấy hết ruột gan của hắn. Tai ta điếc không nghe lời can gián khi ta phong tước hàm cho hắn. Chi bằng ta ra cáo bạch cho chúng dân biết về Lý Bật, ta nhận lỗi với chúng dân, và ta hứa, bắt đầu từ Triều đình, phải làm sạch cỏ dại. Khanh hãy giúp ta soạn cáo bạch để chúng dân cùng biết lòng ta.

Quan cơ mật:

-Bẩm Bệ hạ, thần tuân chỉ.

Hoàng thượng:

-Khanh cũng cho soạn thánh chỉ, phong cho Hoàng Giáp làm quan đại thần trấn giữ cương giới.

-Bẩm Bệ ha, thần tuân chỉ.

-Bắc triều nước rộng, người đông, nhưng lòng người khó lường. Họ cười đấy mà đâm dao vào ta đấy. Họ hữu hảo đấy mà mắt ngó nghiêng khắp chốn. Họ ưỡn ngực tự xưng nước lớn mà hành vi lấn đất, hại người chỉ ngang bọn thảo khấu. Sau cái bắt tay của họ, mình phải dùng nước sạch rửa tay để thôi vương vấn. Sau lời hứa hẹn của họ, mình phải dụi mắt ba lần cho tỉnh ngủ để khỏi bị đầu óc mê muội. Bang giao thì phải bang giao, nhưng đừng quên soi xét, cảnh giác. Cái gì xấu, họ sai bề tôi hành động, tránh xấu cho triều đình. Ta phải biết, đánh bề tôi nhưng phải cho quảng đại thiên hạ các nước biết dã tâm của họ. Ấy là lấy độc trị độc.

-Bẩm Bệ hạ, thần nhớ lời Bệ hạ.

-Hãy làm cho Bách tính tự hào về nước Việt, muốn vậy, phải làm cho Bách tính tự hào về Triều đình. Ta là Hoàng thượng, các Khanh là quan đại thần, trăm thứ quyền lực do Triều đính nắm giữ, nhưng là nắm giữ cho dân không phải nắm giữ cho riêng mình. Ta và các khanh đều là con dân nước Việt. Đã là con dân thì phải trung hiếu. Kẻ nào phạm điều này, kẻ đó phạm trọng tội. Dù ta là Hoàng thượng, nếu phạm điều này cũng phạm trọng tội. Khi dân chúng quay lưng với triều đình, nước nguy. Khi dân chúng bằng mặt không bằng lòng với triều đình, nước nguy. Nước nguy thì yếu. Nước yếu thì dễ mất. Ta lại đang ở bên nước lớn, trăm họ phải nhớ, một phút sa chân, sẩy chân, nước mất.

Canh năm.

Hoàng thượng thiết triều.

Hoàng thượng thông báo việc Lý Bật.

Các quan trong triều nhìn nhau.

Nhất nhất đề nghị Bệ hạ ra thánh chỉ tru di tam tộc.

Hoàng thượng nói:

-Luật nước ai cũng phải theo. Tru di tam tộc là việc phải làm. Nhưng lúc này việc giữ cương giới còn quan trọng hơn nhiều. Lý Bật tạo phản, nhưng Bắc triều chưa cho ta biết theo đường công khai, ta chưa nên động. Nay ta cần các khanh hãy lấy gương Lý Bật soi, ăn cơm Việt, hưởng bổng lộc nước Việt, rồi quay lưng tạo phản, có thể sướng cái thân mình mà làm hệ lụy đến con cháu, tổ tiên mình, phỏng được gì, ích gì, sướng vui gì? Dù là quan đại thần, mà tạo phản, thì người ta may lắm cũng chỉ coi như con trâu con chó, không đường đường chính chính nữa, liệu mừng lắm sao? Các khanh hãy tự răn mình, nếu có bất mãn hãy nói với ta, nếu có bất đồng thì gặp ta cùng đàm đạo, nếu có bất chí thì cũng tự nói ra, cái gươm trong bụng giấu mãi cũng lòi ra, cái lòng xấu khéo léo lắm thì cuối cùng cũng bị lộ. Làm quan nước Việt, đặt thể diện lên trên, đặt tự kiêu tự đại xuống dưới, có thế dân mới yêu, dân yêu thì mới kính, dân kính thì mới theo. Các khanh nghe ta nói đúng không?

-Bệ hạ vạn tuế, vạn vạn tuế.

Hứa Văn cả cười:

-Bẩm Bệ hạ quá khen, đó chỉ là cái mẹo vặt của thần thôi.

Hoàng thượng Bắc triều gật gù:

-Khanh nói phải, đôi khi cần cái mẹo vặt mà ra việc lớn.

Quân đại thần hùa theo:

-Theo cái lý của Quan đại thần Hứa Văn, e rằng sẽ làm cho hoàng đế nước Việt khó xử.

Hoàng thượng phẩy tay:

-Ta nghĩ, cái mẹo này của Hứa Văn là phải ban thưởng. Ta cướp đảo của nước Việt mà nước Việt không lu loa kêu được là ta cướp đảo, ấy là khôn ngoan. Nay ta ban thánh chỉ, thôi không đưa Lý Bật về nước Việt để chịu tội, tức là ta đã ban sự sống cho hắn. Lại sai hắn ra đảo Cát vàng, trú ngụ ở một đảo lớn nhất, lại ban cho nhà cửa, thuyền bè, lương thảo, lại ban cho dân binh của ta đóng giả người Việt. Với các nước, ta nói đó là đảo của người Việt, do quan đại thần nước Việt trấn giữ, với ta, Lý Bật ắt phải phục tùng. Rồi dần dà, từ một đảo, ta cho Lý Bật lấn thêm hai đảo, ba đảo, âu cũng là thuận ý trời, chẳng mấy lúc đảo cát vàng sẽ thuộc về Bắc triều mà không ai nghi ngờ, không ai bắt bẻ, không nước nào phản kháng, còn nước Việt thì chỉ còn ôm mặt mà khóc, ai dè người nước Việt lại đi xâm chiếm đất đai nước Việt. Khá khen, Khá khen.

Hoàng thượng và các quan trong triều cười rất to, đắc chí.

Đột ngột, có tiếng kêu lớn:

-Bẩm Bệ hạ, tin cấp báo, tin cấp báo.

Hoàng thượng:

-Nói ta nghe.

-Bẩm Bệ hạ, theo lệnh Bệ hạ, quân binh vùng cương giới với nước Việt nhắm vào bản đồ cơ mật do Lý Bật dâng lên, đã bí mật bao vây, đặng tiêu diệt quân binh phòng thủ nước Việt. Nào hay, gần 3 ngàn quân binh của ta đều sập bẫy của quân binh nước Việt, không ai sống sót.

Hoàng thượng nhìn các quan đại thần.

Không ai dám hé lời.

Quan cơ mật tấu:

-Bẩm Bệ hạ, việc này chắc là Lý Bật đã…

Hoàng thượng:

-Im. Đừng thấy thất bại mà vội nghi ngờ hắn. Hắn không dám làm chuyện đó.

Hứa Văn nói:

-Bệ hạ sáng suốt. Lý Bật đã tạo phản nước Việt, can cớ chi mà gian dối với triều đình ta. Chẳng qua đây là do Hoàng đế nước Việt biết trước, cảnh giác bày binh bố trận lại mà quân ta thì ngu ngốc, bảo đánh là đánh, bảo lấn là lấn, ỷ vào lệnh Bệ hạ, không quan sát, không dò xét, thua là phải, chết là phải.

Hoàng thượng lẩm bẩm:

-Các khanh nhìn đấy mà làm. Nước Việt bé mà khôn ngoan. Không phải cứ dùng sức mạnh mà lấn được. Bãi triều.

Còn lại Hứa Văn.

Hoàng thượng hỏi:

-Ta bị vố đau quá.

Hứa Văn an ủi:

-Không có sao Bệ hạ. Âu cũng là chuyện đã rồi.

-Ta mất 3.000 binh lính.

-Bẩm Bệ hạ, thần biết lòng bệ hạ đau buồn nhưng việc lớn vẫn đang phải làm…

-Lúc nào Lý Bật có thể xuất bến?

-Bẩm bệ hạ, thần đã cho chuẩn bị kỹ lưỡng. Đợi lệnh Bệ hạ.

Hoàng thượng:

-Để ta xem xét. Người lui đi.

Hứa Văn ra.

Hoàng thượng tư lự. Quan cơ mật khép nép bước vào:

-Bẩm Bệ hạ…

-Việc gì?

-Lý Bật xin gặp chào từ biệt bệ hạ.

Hoàng thượng nhếch mép cười.

Lý Thắm ngân ngấn nước mắt, nhìn Đội Nhất:

-Còn hy vọng chứ chàng?

Đội Nhất mắt vẫn hướng về phía đất liền, thở dài:

-Hy vọng thì còn. Chỉ e Triều đình có chuyện chi?

-Chàng nói thế… là có ý nói Triều đình bỏ rơi chúng ta.

-Không. Bỏ rơi thì không. Hoàng đế anh minh, ngay cả một người dân đui què mẻ sứt Người cũng không bỏ rơi, huống hồ là ta, là bãi đảo cát vàng nơi xa ngái này, vùng cương giới quan trọng đến nhường nào.

-Ngày nào chàng cũng thả xuống biển những mảnh ván khắc thư tín của chàng cầu mong Hoàng đế nhận được. Trên biển kia đã có bao nhiêu lá thư như vậy trôi đi đâu, trôi về đâu? Ít ra thì cũng có người nhặt được mà tấu dâng lên Hoàng thượng chứ…Hay là lần nữa, ta thử mạo hiểm lại tìm cách đóng thuyền, ghép thuyền, lại cử người vượt biển mà vào?

Đội Nhất ôm vai Lý Thắm:

-Đừng mạo hiểm nữa. Lần trước đã cho đi năm người, vẫn biệt vô âm tín, nay không thể nữa. Trên đảo chỉ còn chừng này người, phải giữ nàng ạ…

Họ im lặng.

-Hay là Triều đình có chuyện chi?

Đội Nhất lại tự hỏi.

Lý Thắm không nói gì nữa, im lặng lau nước mắt.

-Trên mỗi đảo, ta đã chôn mốc giới, đã khắc chữ Đại Việt, thế là việc ta hoàn thành. Ít ra thì từ nay, những thuyền buôn qua lại hoặc có kẻ ngang tàng nào đặt chân lên những đảo cát vàng này đều nhìn thấy mốc giới nước ta. Việc này làm ta thỏa lòng. Chỉ e Hoàng thượng vẫn chưa nhận được tin tức, lại nghĩ bọn ta đã bị vùi thây trên biển cả vì sóng to gió lớn, chưa dám cử đội thủy binh nào khác ra thay thế. Ta e vậy thôi, nhưng ta tin thư tín của ta sẽ đến được tay Hoàng thượng.

Đội Nhất vuốt ve mái tóc của Lý Thắm, an ủi:

-Dù có muốn vào đất liền, ta cũng không thể. Chi bằng an phận, tiếp tục ở lại, làm cho trọn đạo vua tôi, hàng ngày tuần đảo, giữ đảo, kiếm đủ cái ăn, đợi ngày Hoàng thượng ban chỉ cho anh em trong ấy ra, cho đàn bà ra, thể nào đảo cũng vui vầy, góp mặt dân chúng trăm họ.

Lý Thắm áp sát gương mặt mình vào gương mặt Đội Nhất:

-Chàng nói với em vậy, an ủi em vậy, nhưng em biết chàng rất buồn, có phải vậy không?

Đội Nhất cười to, cười rất to, tiếng cười của chàng khiến cho những con còng gió hốt hoảng bỏ chạy.

Còn Lý Thắm thì đầm đìa nước mắt.

Hoàng thượng nhà Lý  rưng rưng cảm động, hai tay nâng niu mảnh ván khắc nhằng nhịt những chữ, nói trong nước mắt:

-Ôi Đội Nhất của ta, khanh vẫn tưởng ta chưa nhận được tin báo, khanh vẫn tưởng con thuyền của khanh cho vào đất liền đã không tới được nơi, nên ngày ngày khanh vẫn cứ viết thư tín trên những mảnh gỗ này gửi ta. Thư nào ta đọc cũng thấy rõ lòng khanh với ta. Thư nào ta đọc cũng khắc dấu tấm lòng trung thành của khanh nơi đảo xa giữa trùng trùng biển cả.

Quan đại thần tâu:

-Bẩm Bệ hạ… Xin Bệ hạ ra thánh chỉ để đạo quân có thể xuất bến, ra với Đội Nhất. Thủy binh đã sẵn sàng. Dân binh đã sẵn sàng. Các nữ nhi cũng đã sẵn sàng. Thuyền bè, lương thảo, tất cả đã sẵn sàng, chỉ đợi Bệ hạ ra lệnh…

-Ta biết. Nhưng đây là lá thư mới nhất của Đội Nhất khắc lên ván thuyền gửi ta. Các khanh hãy đọc ta nghe đã.

Quan cơ mật tuân chỉ, cầm mảnh ván từ tay hoàng thượng, nâng lên ngang mặt, tiếng đọc sang sảng.

-Bẩm Bệ hạ. Thần không còn nhớ đây là lần thứ bao nhiêu thần khắc chữ thành thư tín gửi vào cho Bệ hạ. Phụng chỉ Bệ hạ ra thám sát, cắm mốc giới trên dải đảo cát vàng, mọi việc thần đã chu tất. Trên hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ ở đây, đảo nào cũng được thần cắm mốc giới hai chữ ĐẠI VIỆT. Ơn đức Bệ hạ đã giúp thần vượt qua bao sóng to gió lớn, dù phải bỏ mạng mấy trăm con người, nhưng may mắn cho thần, cuối cùng việc Bệ hạ giao thần cũng đã hoàn thành. Cắm được mốc giới thì cần người giữ gìn. Cần thủy binh. Cần dân binh. Cần thuyền lớn. Cần lương thảo. Cần dụng cụ đánh cá. Cần một cuộc sống lâu dài. Thần trộm nghĩ, nếu không lập làng lập ấp ở đây, hẳn khó lòng giữ đảo được yên ổn. Cuộc sống sướng khổ là ở chí, ở lực, ở sức của muôn nhà. Đất đai tổ tiên không thể bỏ không. Xin Bệ hạ ra thánh chỉ để Triều đình có thể đưa người ra, vừa giữ đảo vừa làm ăn sinh sống.  Dải đảo cát vàng nơi thần tới là những cồn cát nằm giữa biển, chạy từ Đông Bắc qua Tây Nam; đống cao dựng đứng như vách tường, bãi thấp cũng ngang mặt nước biển, mặt cát khô rắn như sắt, rủi thuyền đụng phải hẳn tan tành; bãi cát rộng hàng trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu, mắt nhìn mù tít chẳng có cây cối nhà cửa. Nếu thuyền bị trái gió, trái nước mà lạc vào, dẫu không tan nát cũng không gạo không nước, trở thành ma đói mà thôi. Từ đây vào tới đất liền Đại Việt  ta khoảng 7 ngày đường, chừng 700 dặm. Nhiều đời trước, quốc vương nước Việt ta hàng năm từng sai thuyền đánh cá đi dọc từng bãi cát, lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền hư hỏng dạt vào. Dù là ngàn trùng hiểm trở, nhưng mùa này, hướng gió này, hẳn có thể ra khơi, miễn là thuyền lớn, đóng chắc, tay chèo vững là đi tới nơi về tới chốn. Thần mong ngóng từng ngày. Xin Bệ hạ mau mau ra sắc chỉ.

Hoàng thượng gật gù, mãn nguyện, nói:

-Đừng để Đội Nhất đợi lâu hơn nữa. Ta ban chỉ mau mau lập đàn tế, chuẩn bị thuyền bè, chuẩn bị thủy binh, chuẩn bị dân binh, làm lễ xuất bến ra khơi.

Triều đình náo nức nghe sắc chỉ của Bệ hạ.

Ba thủy binh của Đội Nhất nghe tin thì vui mừng khôn xiết. Họ được phép về từ biệt gia đình để lại ra đảo.

Đêm ấy, Hứa Văn cầm tay Lý Bật dẫn lên một con thuyền lớn.

Hứa Văn nói:

-Hoàng đế ta đã tha chết cho ngài, nay lại tin cậy giao ngài thuyền bè, lương thảo, dân binh, phong tước cho ngài trấn giữ ngoài đảo xa, ngài thấy sao?

Lý Bật cả cười:

-Đảo ấy ta từng biết. Cũng nằm trong vùng biển gần đảo của Đội Nhất nước Việt, vàng bạc châu báu nhiều vô kể. Ta đã từng xin hoàng đế nước Việt ra đảo này mà không được, nay lại được Hoàng đế Bắc triều y thuận, lòng ta phơi phới như buồm căng gió, ơn ấy ta không quên.

Hứa Văn hỏi:

-Hôm ngài vào từ biệt Hoàng đế ta, bệ hạ nói sao?

Lý Bật nói:

-Bệ hạ nói ta phải nhớ, ta là người nước Việt.

-Đúng vậy.

-Bệ hạ dặn ta, con dân do bệ hạ sai theo ta phục dịch, cũng đều là người nói tiếng Việt như tiếng mẹ đẻ, coi họ như người nước Việt.

-Đúng vậy.

-Bệ hạ dặn ta, hòa thuận với Đội Nhất, không gây hấn chi. Hãy coi đây là việc của người Việt ra đảo làm công việc của người Việt, như Đội Nhất.

-Đúng vậy. Nhưng chí người thuộc Bắc triều, mạng sống của ngươi thuộc Bắc triều. Bắc triều dung dưỡng ngươi thì ngươi phải một mực trung thành. Biển lớn, mạng bé, chỉ cần ngươi trở mặt, thân xác ngươi chẳng còn mà danh tiếng cũng chìm lấp giữa muôn trùng sóng cả.

Lý Bật khúm núm:

-Ta biết, ta biết điều đó.

Hứa Văn đưa Lý Bật xuống thuyền. Cả trăm thủy binh và dân binh cúi rạp chào đón.

Lại có cả vũ khí, cung tên.

Lại có cả lều bạt, khung nhà, tấm lợp.

Lại có cả lương thảo.

Lại có cả nữ tì.

Lý Bật ngây ngất, cười cười, gật gật, đầu óc lâng lâng, tưởng đang cưỡi trên mây.

Hứa Văn nói:

-Rồi ta cũng sẽ tới thăm ngài. Muốn gì nữa ta sẽ gửi ra. Muốn thêm lương thảo, vũ khí ta sẽ gửi ra. Muốn gái đẹp nữa ta cũng sẽ gửi ra. Bệ hạ tin cậy ở ngài, ngài nhớ mà hoàn thành sứ mệnh.

Lý Bật từ biệt Hứa Văn, đoạn, lệnh cho thuyền dong buồm hướng về biển khơi.

Đội Nhất lặn một hơi dài xuống tận đáy biển. Lạ quá, lạ quá, khúc eo biển này, gần cồn cát vàng nửa chìm nửa nổi giữa biển, không hiểu sao chìm đắm chồng chất rất nhiều thuyền bè. Đội Nhất nhào lên khỏi mặt biển, ới gọi anh em tới.

Đội Nhất nói:

-Dưới đáy biển ở đây chồng chất thuyền bè bị đánh đắm, thuyền vẫn nguyên, đồ đạc, hàng hóa vẫn nguyên, thế tức là không phải do bão biển, không phải do giông tố, vậy tại sao thuyền bè cứ qua chỗ này thì bị nhấn chìm.

-Có thủy tặc thưa ông Đội.

-Hay biển này có quỷ quái thưa ông Đội.

Đội Nhất lắc đầu:

-Ta không tin vào ma quỷ. Ta chỉ phân vân vì sao thuyền bị nhấn chìm dễ quá. Cả thuyền bị kéo xuống tận đáy. Dưới đó chỉ là đá, lớp lớp những tảng đá màu đen. Rất khó hiểu. Hiểu theo ma quái cũng được vậy. Thuyền lớn mới chìm, thuyền bé không chìm, vậy là thế nào?

Anh em thay nhau lặn sâu xuống quan sát.

Một người nói:

-Bẩm ông Đội, coi như khúc biển này là cái bẫy.

Đội Nhất bước tới:

-Người nói thế có nghĩa gì?

-Bẩm ông Đội, nếu nhỡ có thuyền bè các nước đe dọa ta, ta lừa cho chúng vào tới eo biển này là sẽ bị thủy quái nhấn chìm.

-Được. Ý ngươi hay lắm. Nhưng ta vẫn muốn biết, vì sao thuyền bị nhấn chìm? Các ngươi không tìm được nguyên cớ sao?

Bỗng nghe tiếng la thất thanh.

Mọi người hốt hoảng lao tới. Trên biển, một thủy binh giãy giụa la hét.

Đội Nhất và mọi người lao xuống.

Người thủy binh ấy đang bị một lực hút ma quái cứ kéo dúi xuống sâu trong đáy biển, giẫy mãi không thoát được.

Đội Nhất bơi nhanh tới. Viên thủy binh sắp chết ngạt. Đội Nhất nhìn thấy rõ ràng viên thủy binh đang bị một sức mạnh vô hình kéo trì xuống đáy, không cách gì có thể thoát ra được.

Đội Nhất cầm tay viên thủy binh, chàng cũng lập tức bị sức mạnh vô hình kéo trì xuống.

Đội Nhất buông tay. Chàng nhìn viên thủy binh đang chìm nhanh và phát hiện, hình như tên thủy binh đang ôm cái gì đó ở trước ngực.

Đội Nhất lặn nhanh xuống, dùng sức mạnh, đạp chân cho bay cái thùng sắt mà tên thủy binh đang ôm trước ngực ra khỏi thân thể anh ta. Và ngay lập tức, thùng sắt bị hút nhanh xuống tận đáy còn tên thủy binh thì được Đội Nhất kéo lên bờ.

Đội Nhất ngờ ngợ đã nhận ra một nguyên do.

Đội Nhất hỏi tên thủy binh:

-Vừa rồi, nhà ngươi ôm cái thùng sắt ấy đựng gì

Tên thủy binh mặt mày tái mét, lo sợ thưa:

-Bẩm ông Đội, hôm qua con tìm thấy  một  con voi bằng ngọc rất đẹp, định làm của riêng. Nhưng sợ ông Đội và anh em nhìn thấy nên lên bờ tìm cái hộp sắt giấu con voi ngọc rồi ra đây lặn xuống, định cất giấu thì chẳng may bị nạn.

-Ta hiểu rồi.

-Bẩm ông Đội. Tội tham lam của con đáng chết.

Đội Nhất nói:

-Lần này ta tha mạng ngươi, nhưng nói ta nghe đi, có cái gì kéo ngươi chìm nhanh xuống đáy?

-Con như bị ai đó kéo xuống đáy, vẫy vùng không lên được.

-Ta hiểu rồi.

-Bẩm ông Đội. Tới khi ông Đội đạp cái thùng sắt ấy ra khỏi người con, thì con không cảm thấy sức hút ấy nữa.

Mọi người lặng lẽ nhìn nhau, vừa ngạc nhiên, vừa khiếp hãi.

Đội Nhất cầm một thanh sắt lớn:

-Các ngươi đi với ta.

Đội Nhất sai hai thủy binh cầm thanh sắt bơi lại gần chỗ eo biển. Ai cũng lo sợ, không muốn đi.

Đội Nhất nói:

-Các ngươi sợ thì để ta đi vậy.

Đội Nhất cầm thanh sắt bơi nhanh ra eo biển. Chàng chưa kịp lặn thì bất chợt chàng bị nước xoay tròn và hun hút kéo xuống nhanh như chớp. Chàng vội vàng buông thanh sắt. Thanh sắt lao vun vút xuống đáy, cắm phập vào lớp đá đen còn Đội Nhất thì phóng người lên nhẹ như không.

Anh em chạy tới.

Đội Nhất ôm choàng lấy anh em:

-Ta biết rồi. Ta biết rồi. ta biết rồi…

Và chàng cười ha hả.

Từ khi lên ngôi, có lẽ đây là lần đầu tiên Hoàng đế nhà Lý mới tổ chức một ngày lễ lớn đến như vậy. Kinh thành suốt nhiều ngày náo nức thực hiện chỉ dụ của Hoàng thượng, giăng đèn kết hoa, lập đàn tế ở ngay cửa sông ra biển. Lại sai lính trang trí thật nhiều cờ xí rực rỡ trên đoàn thuyền 5 chiếc được đóng lớn. Lại sai nhiều đoàn ca vũ thay nhau múa hát dọc đường dẫn xuống bến thuyền. Lại sai các quan địa phương gần Thăng long mở đường cho dân chúng tới dự lễ. Lại sai xây dựng một giàn cao đặt nơi làm tế lễ. Ngày đêm các phường hát, phường múa tập những động tác múa lễ theo hướng dẫn của các thầy biện lễ. Lại sai làm hình nhân, nam có, nữ có, xiêm y lộng lẫy. Lại sai chuẩn bị nhiều bó tre. Chưa tính đến chuyện trước đó nào lương thảo, nào cung tên, nào vật dụng, nào gỗ ván, nào tre nứa, nào đồ gốm, lần lượt chuyển xuống chất đầy trong từng thuyền. Dân chúng đổ về kinh thành đông không tính xuể.

Trong lần thiết triều bàn về việc làm lễ xuất quân ra đảo cát vàng, Hoàng thượng nói:

-Ta nghĩ rằng, không giống như những ngày lễ trong nước, ngoài việc phải lo thật chu đáo, thật vui vẻ, thật náo nhiệt, lần xuất binh này là để gây trong lòng dân chúng niềm tự hào về nước Việt. Tiễn thủy binh, dân binh ra cương giới xa xôi, ra nơi hiểm nguy, bảo vệ đất đai tổ tiên, không thể làm đơn giản mà được. Trước là cầu xin trời đất, Phật tổ yểm trợ, trời yên biển lặng, đi tới nơi, về tới chốn. Sau nữa là cũng nhân đây cho các nước lân bang biết về sức mạnh của nước Việt, ý chí của con dân nước Việt trong việc bảo vệ cương giới. Làm thế, người đi thì vui, lòng yên, tâm yên, cố sức cố lòng hoàn thành bổn phận, người ở lại thì lấy đó làm gương, đặng noi theo mà dựng xây nước nhà bền vững. Nay chiểu theo tấu trình của các thần chuyên coi về địa lý, về thời tiết, về hướng gió, hướng sóng, ta phê chuẩn lệnh xuất bến.

Chuyến đi này có 300 thủy binh cùng vũ khí cung tên đầy đủ, thêm 200 dân binh gồm 100 dân binh nam, 100 dân binh nữ đã được tuyển chọn.

Rồi ngày lễ xuất quân cũng tới.

Trên 5 con thuyền đỗ san sát nhau, cờ xí tung bay, mặt người rạng rỡ, dân binh, thủy binh đứng trên thuyền, hừng hừng khí thế, nom đẹp như tranh vẽ, nom oai phong lẫm liệt, khí thế bừng bừng.

Nắng vàng rực rỡ. Trên giàn cao, Hoàng thượng là chủ lễ.

Quan quân xếp hàng ngay ngắn.

Binh lính đứng nghiêm, mắt hướng thẳng về phía biển khơi.

Nhìn không khí ấy, ai ai cũng thấy lòng dạ lâng lâng, muốn hét lên, muốn hát lên, muốn gào lên vì tự hào, vì sung sướng.

Hoàng thượng đứng trên cao, dưới là cờ mang chữ ĐẠI VIỆT, tiếng Hoàng thượng nghe như sấm rền:

-Phụng mệnh trời đất, ta, Hoàng đế Đại Việt, xin với tổ tiên, Phật tổ, xin với trời này, đất này, hãy yểm trợ cho đoàn thuyền của nước Việt ra nơi cương giới, đi là tới, biển yên sóng lặng, muôn người như một, giữ vững cương giới ngoài biển khơi. Nước Việt ta ngàn đời nay chỉ biết đến hòa hiếu, chỉ mong muốn bình yên, trăm họ đồng lòng, không muốn gây hấn với ai, không muốn đầu rơi máu chảy với ai, một lòng một dạ hướng về tổ tiên, gây dựng cuộc sống. Nước Việt ta ngàn đời nay coi đất đai tổ tiên để lại là máu thịt. Kẻ nào xâm lấn, trăm họ không khoan dung. Kẻ nào cướp phá, bách tính ta không tha thứ. Nay ta ban Thánh chỉ, xuất  thủy binh, dân binh ra cương giới giữ đảo cát vàng. Các ngươi đi, lấy cái gốc Việt làm chính đạo, lấy cái phẩm hạnh Việt làm khuôn phép, có chết thì chết ở ngay mốc giới, dù gặp muôn trùng bão tố cũng không nao núng, dù gặp ngoại bang vây bủa cũng không lùi bước, sống thì giữ đất, chết thì thành hồn vía con dân nước Việt, sống cũng ngẩng cao đầu mà chết thì cũng vì trăm họ mà không hổ thẹn. Ta ban lệnh xuất binh.

Cả vạn người hô to:

-Hoàng thượng vạn tuế, vạn vạn tuế.

Rồi bắt đầu là lễ tế của các thầy cúng.

Những hình nhân làm bằng gỗ được thả xuống biển trong tiếng trống, tiếng chiêng, trong tiếng khấn vái, trong hương khói, những mong các hình nhân gánh họa thay cho những thủy binh, dân binh chuẩn bị ra khơi.

Rồi những bó tre được trao cho những người trên thuyền, chết thì bó thân xác trong những thân tre này, thả trên biển đặng về với quê cha đất tổ.

Rồi Hoàng thượng cầm một chung rượu, tới từng người, tất cả cụng ly rượu tiễn của Hoàng đế ban.

Rồi tiếng tù và vang lên từng hồi dài.

Từng con thuyền từ từ rời bến.

Người dân khắp bốn mặt kinh thành ai cũng muốn ào xuống bến thuyền để tiễn người ra đi.

Tiếng nhạc lễ vang ngân như lời chào, như tiếng gọi.

Suốt mấy ngày đêm trên biển, Lý Bật say trong rượu ngon gái đẹp. Đến lúc chiều tà thì lính canh bước vào:

-Bẩm Đại thần, hình như trước mặt đã là đảo cát vàng.

Lý Bật nhoài người ra cửa sổ căn phòng ngủ trên thuyền, ngó nghiêng. Mờ xa đã là dải đảo cát vàng, ẩn hiện trong áng chiều tà.

Lý Bật vùng dậy, chỉnh sửa lại y phục rồi ra lệnh cho binh lính trên thuyền chuẩn bị.

Lý Bật lẩm bẩm:

-Ta mong ngày này từ lâu lắm rồi.

Lý Bật không sợ gặp Đội Nhất. Vốn là quan đại thần trong triều, Lý Bật hiểu, trong tay Đội Nhất giờ chỉ có mấy mống người, vũ khí cung tên không có, sức vóc ấy làm sao ngăn được Lý Bật.

Lý Bật nhớ lại cảnh hắn vẫn thường mê mẩn trước những thùng gỗ đựng đầy vàng bạc ngọc ngà mà Đội Nhất gửi vào. Như thế là trên đảo còn nhiều lắm, nhiều lắm. Lý Bật sẽ cho gom hết lại làm của riêng. Hắn sẽ là Chúa đảo. Hắn sẽ xây dựng đảo thành một lãnh địa, thuyền buôn đi lại phải nhất nhất cống nộp. Rồi hắn sẽ giàu hơn cả hoàng đế Bắc triều. Rồi hắn sẽ lại được vênh váo. Hắn sẽ dùng tiền, dùng vàng tuyển mộ binh lính, sắm sửa cung tên, không khéo lại còn thành lập cả một vương quốc ở đây, hùng mạnh cát cứ giữa biển đông, Bắc triều cũng nể sợ mà Đại Việt cũng hoảng hồn.

Hóa ra không chỉ là một hòn đảo. Hàng trăm hòn đảo kéo dài cả mấy trăm dặm, nhìn vượt ra cả ngoài tầm mắt.

Lý Bật sai lính hạ buồm để giữ bí mật. Hàng chục tay chèo lặng lẽ đẩy thuyền chui vào dần trong đêm tối vừa buông xuống.

Lý Bật hỏi tên cầm lái:

-Mấy canh giờ nữa tới nơi.

-Bẩm. Nhìn vậy nhưng còn xa, phải đến canh ba mới tới đảo.

-Hay lắm. Canh ba càng tốt, như thế là không ai biết thuyền ta cập bến.

-Bẩm. Nói như ngài, trên đảo còn có người?

-Mày ngu si vậy. Không có người thì ta ra xâm chiếm làm gì?

-Nhưng thần nghe nói, đây là đảo của người Việt, còn ta thì đóng giả người Việt.

-Đúng thế.

-Nhưng ngài thực sự là người Việt sao phải đóng giả là người Việt?

Lý Bật chộp tay vào mặt người cầm lái:

-Mày câm mồm. Tao là người Việt nhưng giờ tao đã là quan đại thần của hoàng đế các người. Ta sẽ là Chúa đảo ở đây, ta cướp đảo người Việt để làm Chúa đảo phụng sự cho Hoàng đế các ngươi, hiểu không?

-Bẩm. Thần trộm nghĩ, nếu để phụng sự thì ngài có thể phụng sự Hoàng đế nước Việt không được sao?

Lý Bật rên rỉ:

-Sao đại quan Hứa Văn lại có thể sung cho ta những binh lính ngu ngốc thế này hả trời.

Người cầm lái im lặng, thôi không thèm hỏi nữa.

Nhưng Lý Bật lại hỏi:

-Người nói ta nghe. Nếu thuyền gặp biển động, bão tố, làm sao thoát thân?

Người cầm lái nói:

-Bẩm. Nếu việc đó xảy ra, ngài có thể bám theo những bó tre chuẩn bị sẵn trên thuyền, sóng sẽ đưa ngài vào được đất liền Chính quốc mình.

-Sao nhà người biết chắc vậy, nếu không về chính quốc mà về nước Việt thì sao?

-Bẩm. Hướng gió, hướng sóng này, chắc chắn là về chính quốc.

Lý Bật gật gù rồi tự an ủi:

-Nói là nói thế, thuyền này bão tố nào xô ngã được.

Đêm đen mù mịt. Con thuyền vẫn lù lù tiến vào bờ đảo. Lý Bật không ngủ được, cứ đi đi lại lại.

Hắn nghĩ tới cảnh gặp Đội Nhất, lại nghĩ tới cảnh Đội Nhất và binh lính sụp lạy dưới chân hắn xin tha mạng. Hắn lại nghĩ, nếu Đội Nhất không biết gì, lại tưởng hắn được Hoàng thượng nước Việt sai hắn ra trấn giữ đảo, thì e Đội Nhất và binh lính sẽ xiết bao mừng rỡ khi gặp mặt hắn. Hắn lại nghĩ việc ngay lập tức sai Đội Nhất đưa nộp toàn bộ những vàng bạc ngọc ngà đã thu gom cho hắn. Hắn lại nghĩ tới Thánh chỉ Hoàng thượng Bắc triều ban thưởng cho hắn. Nghĩ và nghĩ. Và nôn nóng. Đêm vẫn đen đúa như ý nghĩ của hắn cũng rất đen đúa.

Đột ngột hắn cảm thấy con thuyền như bị sức mạnh nào kéo hụt xuống. Lúc đầu con thuyền khựng lại, tiến không tiến, lùi không lùi, sau đó thì có nhiều tiếng la hét khi nước biển ào ào ùa vào thuyền. Rõ ràng là con thuyền đang chìm xuống. Hắn hét. Hắn ra lệnh cho binh lính chèo thật nhanh. Hắn thấy biển vẫn lặng. Và thậm chí gió cũng chỉ nhè nhẹ thổi. Nhưng sao con thuyền đang bị hút xuống, hút rất nhanh. Hắn bị văng ra khỏi thuyền. Nhiều bóng người nữa cũng văng ra khỏi thuyền. Và trong đêm tối mịt mùng, hắn quờ quạng, trợn mắt nhìn, bóng con thuyền phút chốc mất hút dưới lớp sóng biển.

Lý Bật quờ tay vào một bó tre lớn.

Những bóng đen khác cũng ôm được những bó tre lớn.

Gió có vẻ lớn, sóng có vẻ lớn. Lý Bật cảm giác như mình bị sóng biển dồn đuổi, xoay lông lốc.

Những tiếng kêu thét đâu đó quanh hắn.

Hắn không quan tâm gì hết ngoài mạng sống của mình. Hắn ôm ghì lấy bó tre và mặc cho sóng biển đưa đi. Hắn nhớ lại lời người cầm lái, sóng biển sẽ đưa hắn về tới đất liền, về Bắc triều. Hắn chưa hết bàng hoàng về việc chìm thuyền. Như ma quỷ. Như có con quái vật khổng lồ kéo chìm con thuyền của hắn mất hút giữa biển khơi.

Đội Nhất thức giấc bởi một tiếng động xa xa, tiếng động là lạ mà theo kinh nghiệm của mình, chắc chắn là có chuyện lớn. Đội Nhất cầm cái vỏ ốc thổi một hồi dồn dập. Thủy binh vùng dậy hết. Lý Thắm níu lấy tay Đội Nhất:

-Có chuyện gì hả chàng?

Đội Nhất cầm lấy cung tên, cầm thêm cây giáo sắt:

-Ta nghi là cướp biển.

-Cho em theo chàng- Lý Thắm cũng cầm lấy một cây giáo sắt.

-Không được… Nàng đang có thai, đây không phải là việc của đàn bà, nàng cứ ở đây.

Đội Nhất phóng lên khỏi chỗ nằm, gặp các thủy binh cũng vừa chạy tới.

-Thưa ông Đội, có tiếng lạ như từ eo biển bên kia đảo.

-Từ đây tới đó bao xa?

-Thưa ông Đội, phải tới mấy chục dặm.

-Được. Đi với ta.

Họ chạy vun vút trên cát.

Tới nơi thì vừa sáng. Biển yên sóng lặng. Không có dấu vết nào đáng nghi ngờ. Đội Nhất và các thủy binh nhìn nhau.

Đội Nhất nói:

-Hay ta ngủ mê?

Mọi người trở về.

Lý Bật mù mờ không biết mình mê hay tỉnh. Toàn thân đẫm nước, lạnh run bần bật.

Không biết hắn đã lênh đênh trên biển được mấy ngày đêm.

Những con sóng cứ thế phủ qua người hắn. Rồi hắn va phải một tên lính cũng đang ôm lấy bó tre. Lý Bật hỏi:

-Khi nào thì tới đất liền.

-Thưa ngài, thuyền đi ra thì chậm, nhưng hướng gió này, chẳng mấy lúc ta vào tới đất liền.

-Ta đói quá, khát quá, không biết có vào tới đất liền nổi không.

Lý Bật sai tên lính bám vào bó tre của mình, canh chừng, còn hắn thì nằm gục xuống ngủ thiếp đi lúc nào không hay biết.

Lại một đêm nữa.

Chợt sóng lớn nổi lên. Tên lính ôm cứng lấy Lý Bật mếu máo:

-Có bão biển. Thế là hết đường sống.

Tên lính khóc. Hắn ôm cứng lấy bó tre miệng câm như hến.

Đột ngột, cả hai bị sóng hất tung lên bờ cát.

Tên lính reo lên:

-Sống rồi… về chính quốc rồi… Hoàng thượng vạn tuế.

Lý Bật vùng dậy, ưỡn ngực:

-Về chính quốc rồi ư… Về Bắc triều rồi ư? Ta sống rồi ư? Hoàng thượng vạn vạn tuế.

Lý Bật ôm thằng lính khóc.

Lý Bật nói:

-Ta thề với trời, với đất, thua keo này ta bày keo khác, ta sẽ xin hoàng đế Bắc triều cho ta xuất binh lần nữa… ta phải là Chúa đảo. Ta phải thay thế Đội Nhất làm Chúa đảo. Mày hiểu chứ. Tao sẽ là Chúa đảo của Bắc triều, của Hoàng đế. Ta sẽ là…

Hình như có bóng người đang đứng gần mình, Lý Bật ngẩng lên nhìn và giật thót.

Đội Nhất nãy giờ nghe cả.

          

Lý Bật những tưởng Đội Nhất sẽ băm vằm mình ra vì tội phản quốc hoặc chí ít thì cũng bắt lính trói ngay lại, nhốt như nhốt một con chó trong cũi đợi ngày về dâng nộp Hoàng thượng lĩnh thưởng.

Nhưng không.

Đội Nhất cúi xuống, nhìn lần nữa vào gương mặt bạc thếch vì đói rét của hắn, đoạn sai lính lấy áo quần cho Lý Bật và tên lính Bắc triều còn sống mang vào. Lại đốt lửa cho sưởi. Lại mang thức ăn cho ăn.

Đội Nhất chẳng nói chẳng rằng, suốt ngày lầm lỳ.

Đội Nhất không cho Lý Thắm biết bắt được Lý Bật.

Nhưng rồi Lý Thắm cũng biết.

Nàng gặp Lý Bật và gần như hoảng loạn.

Nàng kéo Đội Nhất về chỗ ở:

-Sao chàng giấu em?

Đội Nhất nhìn Lý thắm:

-Ta biết nàng gặp hắn sẽ không chịu nổi.

-Biết vậy nhưng sao chàng giấu em? Sao chàng không vùi hắn xuống biển, vùi trong cát, sao còn cho hắn sống? Chàng có biết là em căm thù hắn đến nhường nào không?

-Biết- Đội Nhất gật đầu- Vì biết nên ta mới cố giấu nàng.

-Chàng biết? Lý Thắm ngạc nhiên- Vì sao chàng biết?

Đội Nhất nói:

-Khi còn làm quan đầu huyện, hắn đã hãm hiếp em gái nàng. Hãm hiếp chán rồi vứt xác em gái nàng xuống sông. Tới khi bị phát hiện thì hắn chạy chọt, xin quan đại thần làm sai vụ án, coi em nàng tự vẫn. Ta biết rõ hắn. Ta và hắn vốn là bạn học ở Kinh thành.

Lý Thắm trừng trừng mắt nhìn Đội Nhất:

-Chàng thế đấy. Chàng đã biết vậy nhưng vì nghĩa bạn tình xưa, chàng muốn giấu em để tìm cách bao che, giấu kín tội lỗi của hắn, đúng không?

-Không. Ta chỉ sợ nàng phẫn uất mà trả thù hắn, không hay.

-Sao lại không hay? Giờ hắn chỉ là thằng phản dân hại nước, đây là cơ hội cho em phanh thây hắn ra trăm mảnh để em gái em cũng được dịp ngậm cười nơi chín suối. Vì tội ác của hắn mà mẹ em cũng ốm chết. Cả nhà em tan nát. Cha em đâm đơn kiện hắn lên Kinh thành thì bị thích khách bịt mặt đâm chết. Em một thân một mình.

-Ta hiểu.

-Chàng có hiểu được em tình nguyện theo chàng ra đảo là vì sao không?

-Vì để cùng ta bảo vệ cương giới.

-Lúc đó thì không phải thế. Em đi là để quên hết nỗi đau buồn, quên cả sự thù hằn, bởi vì kẻ thù của gia đình hắn đã là quan đại thần của triều đình, còn ai làm gì hắn nữa.

-Ta hiểu.

-Nhưng bây giờ hắn chỉ là thân chó má, chàng hãy cho em dịp này, phanh thây lột xác hắn ra…

Đội Nhất kéo Lý Thắm vào lòng mình. Chàng lau nhẹ những giọt nước mắt trên mi mắt của Lý Thắm. Chàng lại đưa tay vuốt ve tấm thân đang nóng rực lên vì căm giận của Lý Thắm. Chàng thủ thỉ:

-Tội của Lý Bật thì không cần nàng ra tay cũng bị Hoàng thượng phanh thân, lột xác, lại còn tru di tam tộc. Ta hiểu luật triều đình. Nhưng điều ta chưa biết là vì sao Lý Bật lại trở giáo theo ngoại bang, lại còn đưa thuyền ra chiếm đảo. Nếu không vì tai nạn chìm thuyền ở eo biển thì tình hình bây giờ không biết sẽ thế nào. Ta cũng muốn biết hắn rời nước Việt sang Bắc triều vào lúc nào, tất nhiên là sau khi ta và nàng ra đảo. Vậy chắc chắn hắn phải biết Hoàng thượng có nhận được tin tức của ta không? Con thuyền với 5 thủy binh ta gửi vào có tới nơi không? Ta cần thông tin ở hắn, nàng hiểu chứ?

Lý Thắm im lặng.

Đội Nhất bước đi còn dặn với:

-Nàng hãy nấu cho chúng nó thức ăn nhiều vào.

Lý Thắm ngồi bó gối không trả lời.

Sau khi cho người dẫn Lý Bật và tên lính tới một nơi giam giữ và cho người canh gác cẩn mật, Đội Nhất cùng nhóm thủy binh đi trở lại eo biển. Theo lời khai của Lý Bật, thì toàn bộ con thuyền khi chìm xuống đều nguyên vẹn.

Mấy thủy binh rụt rè hỏi Đội Nhất:

-Thưa ông Đội, thằng béo tốt ấy là quan lớn của Bắc triều phải không?

Đội Nhất gật gù:

-Cũng có thể. Các người không cần quan tâm chuyện đó.

Mặt biển rất lặng.

Không có dấu hiệu gì để coi đây là vùng biển nguy hiểm.

Đội Nhất nghĩ tới khả năng dưới vùng biển này có một khối đá nam châm rất lớn. Nếu thuyền mang nhiều sắt thép, ắt bị hút chìm.

Dọc đường đi, theo bãi biển, rất nhiều xác người bị sóng tấp vào. Đội Nhất lệnh cho anh em đào huyệt, chôn cất cẩn thận.

Đội Nhất và anh em thay nhau lặn xuống đáy biển. Nhìn thấy rõ con thuyền vẫn nguyên vẹn chìm sâu sát mặt đá. Đội Nhất cho anh em dùng dây thừng lớn lấy ở thuyền, buộc những thùng đồ đạc có trong thuyền rồi kéo dần lên bờ.

Đội Nhất khảo sát toàn bộ con thuyền rồi chui vào đáy từng khoang. Không biết cơ man nào là giáo mác cung tên, bó thành từng bó. Có vẻ như con thuyền này đang có ý đồ nham hiểm, gây dựng quân đội sau khi chiếm đảo. Dù rất khó nhọc, chống lại với sức hút của khối đá nam châm, nhưng với từng bó gươm giáo nhỏ, cũng kéo dần dần vào bờ được.

Suốt gần một ngày quần quật như vậy thì tất cả những món hàng trên thuyền đã được đưa hết vào bờ: lương thảo, thức ăn, vũ khí, vải vóc, gỗ ván làm nhà,…

Con thuyền bắt đầu chòng chành.

Đội Nhất lại cùng anh em buộc dây kéo dần thuyền vào bờ. Đây quả là công việc nặng nhọc. Con thuyền lớn, nặng, đóng bằng gỗ tốt. Cho tới khi kéo được mũi thuyền chồm lên được bãi cát thì cả Đội Nhất và anh em đều kiệt sức.

Mọi người quay trở lại lán trại của mình nghỉ ngơi.

Đội Nhất ngạc nhiên không thấy Lý Thắm. Nghĩ có chuyện gì, Đội Nhất chạy nhanh về nơi giam giữ Lý Bật.

Lúc ấy, Lý Thắm đang bưng thức ăn vào cho Lý Bật và tên lính.

Đội Nhất nhíu mày khi thấy gương mặt Lý Thắm lại cười cười với Lý Bật. Đội Nhất bước xa xả tới gần. Lý Thắm hơi thoáng giật mình, đưa vội thức ăn cho Lý Bật và giục ăn nhanh.

Lý Bật hai tay bưng cái vỏ ốc đựng thức ăn chực đưa lên miệng thì Đội Nhất lao tới:

-Khoan đã…

Đội Nhất giành lấy cái vỏ ốc đựng thức ăn từ tay Lý Bật:

-Để ta ăn trước, ta đang đói.

Lý Thắm hoảng sợ giành lấy cái vỏ ốc:

-Không. Chàng không được ăn.

Rồi Lý Thắm kéo Đội Nhất ra xa.

Đội Nhất nhìn Lý Thắm:

-Nàng không nghe lời ta.

Lý Thắm cúi mặt.

-Nếu trị tội hắn, ta cần trị tội hắn đàng hoàng, giữa thanh thiên bạch nhật, trước thánh chỉ Hoàng thượng, có sự chứng giám của bách tính. Mắc mớ chi nàng phải hành động như vậy?

Lý Thắm khóc.

-Ta dạy cho nàng những loại thức ăn có độc trên đảo, những sinh vật có độc trên đảo là để bảo vệ an toàn tính mạng cho nàng, cho anh em, không phải để nàng dùng để đầu độc hắn bằng thức ăn như thế này.

Lý Thắm ấm ức:

-Nhưng sao chàng biết?

Đội Nhất nhìn vào mắt Lý Thắm, ôn tồn:

-Nàng thèm cơm không?

Lý Thắm ngạc nhiên:

-Cơm?

-Ta sai anh em mang về từ con thuyền đắm của Lý Bật rất nhiều gạo, cả thịt heo, cả muối mắm, cả vải vóc, rất nhiều thứ. Nàng hãy nấu cơm nhé.

Lý Thắm nép mình vào Đội Nhất:

-Hóa ra hắn tiếp viện cho ta phải không?

-Đúng vậy.

-Và chàng hình như còn muốn quân Bắc triều tiếp viện cho ta nữa nếu khéo dụ Lý Bật?

Đội Nhất âu yếm ôm gương mặt Lý Thắm:

-Nàng có thể thay ta được rồi… Nàng thông minh hơn ta nghĩ… Nàng rất giỏi… Giờ thì nàng hiểu vì sao ta không tỏ thái độ gì với Lý Bật chứ?

Lý Thắm mỉm cười:

-Em đi nấu cơm nhé…

Đội Nhất nói với theo:

-Anh em vớt lên được nhiều thứ lắm, có cả những chiếc nồi đồng, nàng tha hồ dùng.

Lý Thắm cười khanh khách.

Đội Nhất nhìn thấy những bước chân của Lý Thắm không còn thoăn thoăt nhẹ nhàng nữa.

Nàng đã gần sinh. Nhìn từ phía sau, eo nàng đang nở ra, mông nàng đang trĩu xuống, mông nàng như quả bí chín đang trĩu xuống từ sàn bí. Nhưng nàng vẫn đẹp lắm, dáng đi cũng đẹp, cái mông trĩu xuống cũng đẹp. Đội Nhất nhìn cho tới khi Lý Thắm khuất dần sau một mô cát lớn.

Lý Bật ăn xong một ô cơm rất lớn, với thịt, với rau dưa, lại còn có cả trà uống, lại còn cá cả một chút rượu, lại còn có cả thuốc hút. Những thứ đó Đội Nhất đều vớt lên từ con thuyền đắm của hắn.

Nằm ườn người trên một tấm ván ghép lại, Lý Bật đăm đăm nhìn ra biển lớn và tự vấn. Vì sao Đội Nhất lại tử tế với ta? Hắn tử tế với ta vì kính nể chức quan đại thần của ta hay còn có mưu mô chi? Hay đây là bữa ăn cuối, như thường vẫn thấy ở bọn cai ngục? Với kẻ tử tù bao giờ cũng cho ăn bữa cuối thật ngon, cơm rượu đàng hoàng? Không. Không. Không thể nào. Hắn phải hỏi cung ta chứ nhỉ? Hắn phải ngạc nhiên khi ta dạt vào đảo này chứ nhỉ? Hắn phải phùng má trợn mắt khi biết ta dẫn đầu một con thuyền của hoàng đế Bắc triều vào chiếm đảo chứ nhỉ? Hay hắn cũng quá mệt mỏi với công việc ở cương giới căng thẳng, thiếu thốn, đói khát và đang mong xin ta cùng hướng tới Bắc triều. Ha ha. Nếu vậy thì ta lại ngồi trên đầu hắn rồi còn gì nữa. Hay hắn bị Hoàng thượng bỏ rơi. Và bây giờ thì đang nổi khùng lên để chống lại Hoàng thượng. A ha ha. Nếu vậy thì hay lắm, hay lắm, ta sẽ đóng vai Hoàng thượng cử ra giả vờ làm quan Bắc triều để bắt hắn khi có ý muốn chống lại Hoàng thượng nước Việt. A ha ha. Nếu thế thì Lý Bật đây công lớn, công lớn, công lớn. Lý Bật có công với cả Bắc triều và Đại Việt. Ô hô hô. Chẳng lẽ số mạng Lý Bật đang phất lên, đang bật lên. Ồ phải rồi, ta là Lý Bật, ta sẽ được trời đất thánh thần giúp cho ta, bật, bật, bật, ha ha ha.

Lý Bật cười thành tiếng.

Mãi nghĩ, mãi cười, Lý Bật lại lần nữa bất ngờ thấy Đội Nhất đang đứng trước mặt sừng sững.

Đội Nhất nhìn cái miệng đang cười của Lý Bật chợt co lại, méo mó, lại nhìn vào đôi mắt nhỏ ti hí của hắn, nói nhát gừng:

-Ở đảo này có một loài thú nhỏ, mặt tròn, mắt ti hí, hễ đêm thì ra kiếm ăn. Giữa cát vắng, một mình nó với thức ăn, chẳng ai dành, mà nó vẫn lén lút, trông rất thảm hại. Ngài cũng như vậy.

Lý Bật há mồm ra nhìn.

-Ngài đã phản lại Bệ hạ, phản lại Bách tính, phản lại nước Việt mà Ngài vẫn hy vọng ta đang coi ngài là quan đại thần sao?

Lý Bật há mồm ra nhìn.

-Rồi có thể ngài đang nghĩ, ta ở đây, thiếu thốn, buồn vắng, nhìn thì như bị bỏ rơi, và chắc ta cũng muốn như ngài, quay lưng với Bệ hạ, chui đầu vào sự bảo hộ của Bắc triều để nhận vinh hoa phú quý sao?

Lý Bật há mồm nhìn.

-Ngài chỉ biết đến ngài mà không nhớ gì đến cha mẹ, anh em, họ tộc của mình… Tội của ngài là tru di tam tộc. Chắc ngài không quên?

Lý Bật há mồm nhìn.

-Thà làm một người dân chân lấm tay bùn, lòng hướng về đất Tổ hơn là ăn bổng lộc triều đình lên đến chức Đại thần mà bán rẻ cả đất nước, bán rẻ cả mạng sống của họ hàng con cháu cha mẹ. Ta nói phải chứ?

Lý Bật cúi đầu.

-Ngài biết vì sao con thuyền cả gần một trăm con người chết hết, lại để ngài sống sót không?

Lý Bật cúi đầu.

-Ta nghĩ trời đúng. Ngài không được chết.

Lý Bật giật mình. Hắn sợ hãi. Lời tuyên bố cho hắn sống còn nặng nề hơn án chém. Đũng quần hắn ướt đẫm.

Đội Nhất im lặng quay bước.

Chỉ sau vài ngày, con thuyền của Lý Bật  đã được Đội Nhất và anh em thủy binh đưa xuống biển, neo lại. Con thuyền không hề sứt mẻ gì, nguyên vẹn. Đội Nhất gặp Lý Bật.

-Ngài có muốn xuống lại con thuyền của mình không?

Lý Bật nhìn Đội Nhất, nửa tin, nửa ngờ, đôi mắt ti hí của hắn hấp háy.

Đội Nhất nói:

-So với nước Việt ta, thuyền này đóng rất chắc, chịu được sóng lớn, chịu được bão tố…

Lý Bật lẩm bẩm:

-Nhưng lại bị chìm ở đây… Chìm như bị ma ám… Như bị quỷ dữ nhấn xuống… E có tảng  nam châm dưới đáy?

Đội Nhất hỏi:

-Người đàn bà vẫn thường đưa cơm cho ngài ăn, ngài nhớ chứ?

Lý Bật nói:

-Cả đảo có một đứa đàn bà chửa hoang, sao không nhớ?

-Chửa hoang? Đội Nhất xô tới- Ngài nói vậy là có ý gì?

-Ta ở đây, cảm kích trước tinh thần phụng sự Bệ hạ của Đội Nhất, nhưng cũng hơi hơi phân vân, bên cạnh lại có ả đàn bà bụng chửa, vậy là có ý gì? Định sinh cư lập nghiệp ở đây? Túm tụm ở đây? Rồi còn ý chi nữa?

Đội Nhất nhíu trán:

-Ngài quên ngài đang là kẻ phản nghịch. Kẻ phản nghịch lại dám buông những lời châm chích ấy ra ư?

Lý Bật cúi mặt, giấu đôi mắt ti hí sau hàng lông mày rậm:

-Ta biết lỗi…

-Thực ngài không nhận ra người đàn bà kia?

-Không.

-Thật chứ?

-Không. Ta nói thật.

Đội Nhất cầm cổ áo Lý Bật nhay mạnh:

-Đến như nạn nhân của mình mà ngài quên thì ngài tạo phản cũng phải. Ngài đã hãm hiếp giết chết em gái cô ấy, lại thuê thích khách giết chết cha cô ấy, rồi cũng vì đau buồn mà mẹ cô ấy phải ốm chết. Nhớ chưa hả?

Lý Bật mỉm cười:

-Làm quan trong triều, con dân cả vạn, cả triệu, đứa sướng đứa khổ, đứa ương bướng, đứa ngoan hiền, khôn thì sống, ngu thì chết, đầu óc đâu mà nhớ…

Đội Nhất xô ngả Lý Bật ngồi bệt trên cát:

-Ta không có chi để nói với ngài nữa. Ngài không phải là con dân nước Việt.

Lý Bật vùng dậy:

-Thế nghĩa là ta được thả về Bắc triều. Ta được lên thuyền kia chứ?

Đội Nhất nhìn Lý Bật:

-Bắc triều sai ngài ra chiếm giữ một hòn đảo ở vùng này, ngài đã khai với ta vậy, chưa xong việc đó, sao ngài đòi về?

Lý Bật ngơ ngác:

-Nghĩa là Đội Nhất cho ta toại nguyện? Cho ta làm Chúa một hòn đảo?

-Chúa đảo sao?

-Đúng thế. Ta không cần biết thuộc Bắc triều hay thuộc Đại Việt, miễn là được Chúa đảo.

Đội Nhất hạ giọng:

-Những lời của ngài khiến ta thấy buồn nôn. Phận ngài giờ như cá trên thớt mà vẫn ngóng tới trời cao, không cần thuộc Bắc triều, không cần thuộc Đại Việt, thế hóa ra ngài định lập vương quốc riêng?

Lý Bật im lặng.

Đội Nhất nói:

-Ta cấp thuyền cho ngài, cấp thêm lương thảo, cho thằng lính Bắc triều đã sống sót cùng ngài theo cùng, ta cho ngài chọn lấy một hòn đảo, ngài ở đấy, muốn làm Chúa đảo hay làm thảo khấu ta không cần quan tâm. Coi như ta bảo đảm lời hứa của Ngài với hoàng đế Bắc triều. Ngài chỉ cần nhớ, án tử của ngài vẫn đó, án tru di tam tộc vẫn đó. Thôi đi đi.

Lý Bật ba chân bốn cẳng kéo tay thằng lính xuống thuyền.

Đội Nhất nói:

-Ngài không tạ ơn ta sao?

Lý Bật lên thuyền, nhổ neo, con thuyền rời bến đảo, nói to vào bờ:

-Cảm tạ. Cảm tạ.

Một thủy binh hỏi Đội Nhất:

-Ngài cho nó sống?

-Đúng vậy.

-Lại cho nó trú ngụ ở một hòn đảo?

-Đúng vậy.

-Nhưng nó giờ là người của Bắc triều?

-Đúng. Nó là người của Bắc triều

-Vậy là sao?

-Nó là kẻ phản loạn. Người Việt ta không tin nó. Bắc triều cũng sẽ không tin nó. Chẳng ai tin một kẻ mang tội chết lại được tự do như thế. Sống mà không ai tin  thì coi như chết rồi.

-Nhưng nếu Bắc triều vẫn dùng nó?

-Ta cần điều đó. Ta cần Bắc triều dùng Lý Bật.

Đội Nhất cầm tay anh em:

-Điều ta cần thì đã có, như Lý Bật khai, Hoàng thượng của ta đã nhận được thư tín, đã gặp được Lý Đạt và anh em của ta cử vào kinh thành. Nghĩa là Hoàng thượng sẽ cho người ra tiếp tế…

-Có đàn bà con gái ra theo chứ, ông Đội?

-Có.

-Có thêm anh em thủy binh, dân binh chứ ông Đội?

-Có.

-Có thêm thuyền bè, vũ khí, đồ đạc, nhà cửa chứ ông Đội?

-Có.

Anh em thủy binh mừng vui ra mặt.

-Bây giờ đi đâu thưa ngài? Tên lính Bắc triều hỏi Lý Bật

Lý Bật thở hắt ra:

-Bây giờ đi đâu?

-Thưa ngài, con đang hỏi ngài.

Lý Bật kéo giật dây néo buồm:

-Chọn cái đảo nào xa nhất ghé vào đã.

Đột ngột, phía trước có một thuyền buồm khác đang hướng tới.

Lý Bật cảm thấy sợ khi nhìn thấy Hứa Văn đứng ở mũi thuyền.

Hứa Văn đợi cho hai con thuyền cập vào nhau, vội nhảy sang, không thèm nhìn Lý Bật, hắn đi lại, ngó nghiêng con thuyền trống rỗng, nhấm nhẳn:

-Hảo à. Hảo à. Dùng lương thảo, vũ khí của Bắc triều ta cung cấp cho Đội Nhất, hảo à, hảo à.

Lý Bật hoảng hốt:

-Bẩm ngài… Ngài đừng nghĩ vậy… oan cho thần… một vụ tai nạn chìm thuyền mà ra vậy…

-Ta biết. Nhà ngươi phúc to nhỉ? Chết cả, còn mỗi nhà ngươi. Phúc to nhỉ? Hảo hảo.

Lý Bật chân run, đứng không vững, tay phải níu lấy cột buồm.

Hứa Văn lại nói:

-Trông ngươi kìa, không giống vóc dáng thần thái của một quan đại thần chút nào. Nghe ta này, ngươi rơi vào tay Đội Nhất mà không bị hắn trừng trị về tội phản loạn, lại thả cho đi, cấp thuyền cho đi, cấp lương thảo cho đi, kể ra… người Đại Việt bao dung nhỉ?

Lý Bật vẫn im lặng.

Hứa Văn bước tới, áp sát mặt vào mặt Lý Bật, gằn từng tiếng:

-Người Việt bao dung hay người Việt giăng bẫy? Nói ra?

Lý Bật lắp bắp:

-Bẩm đại quan… bẩm… người Việt không bao dung mà cũng không giăng bẫy.

Hứa Văn cười lớn, cười và ho sặc sụa, chảy cả nước mắt nước mũi.

-Hảo hảo. Khá khen nhà ngươi trả lời ta một câu hay lắm, hay lắm, rất hay… Không bao dung cũng không giăng bẫy… Hay…

Lý Bật hổn hển:

-Bẩm ngài… Xin ngài cứu con… Hãy nói với Bệ hạ… con đã hoàn thành sứ mạng, đã ra tới đảo, dù thuyền gặp nạn, người đi theo chết cả… Đội Nhất cho con được chọn bất cứ đảo nào mà con muốn…

-Nói nghe lọt tai lắm.

-Không có chuyện quốc gia đại sự gì ở đây…Vì con và Đội Nhất vốn là bạn học chốn Kinh thành xưa, gặp nạn thì cứu, gặp sai sót thì độ lượng, gặp tội lớn thì tha chết…

-Nói nghe lọt tai lắm.

-Dù kiểu gì thì ý chỉ của bệ hạ Bắc triều cũng đã đạt được, rằng con đã chiếm được một đảo của Đại Việt…

Hứa Văn nhìn Lý Bật:

-Rồi Bệ hạ lại cho thuyền ra, cho người ra, lại chìm, lại chết, đúng thế chứ?

Lý Bật hấp tấp nói:

-Dạ không… Chỉ có vùng ấy thôi… Con đoán thế này… Ở đấy có một bãi đá ngầm nam châm… Thuyền nào đi qua mà chở sắt trên thuyền thì bị hút chìm… Những chỗ khác không có… Mà thuyền của con thì chở nhiều vũ khí giáo mác, cung tên bằng sắt…

-Và ngươi đã cố tình cho thuyền vào đúng chỗ ấy?

-Dạ không… Con không biết… Con không thể biết được… Con không biết…

Hứa Văn đứng lên:

-Đúng là nhà ngươi không biết… Ta thì biết… Nhà ngươi không biết… Nhưng ta thì biết… Nhà người đúng là không biết… Nhưng ta biết…

Lảm nhảm mấy câu đó rồi Hứa Văn lại cười.

Đoạn hắn ra lệnh:

-Quay thuyền lại đảo.

Lý Bật vùng người dậy hốt hoảng:

-Kìa ngài… Sao lại quay thuyền…

Hứa Văn nhìn Lý Bật:

-Ngươi sợ?

-Dạ. Bẩm đại quan làm ơn làm phúc…

-Tội tạo phản của ngươi để nước Việt xử, Bắc triều không xử cũng không dụng.

Lý Bật ôm lấy chân Hứa Văn:

-Con biết thân con như thân chó. Con xin chết cho Bắc triều hơn là chết vì nước Việt xử tội… Cầu mong đại quan ban ơn…

Hứa Văn nhìn xoáy vào mặt Lý Bật:

-Nói thẳng ra là mày thích sống?

Mắt ti hí của Lý Bật cụp xuống.

Lý Thắm thấy đêm dài quá. Nàng không ngủ. Từ khi Đội Nhất tha cho Lý Bật, nàng giận lắm mà không dám nói. Nàng tiếc là mình chưa kịp trả thù hắn. Nàng cũng không hiểu vì sao Đội Nhất của nàng lại làm như vậy. Nhưng đó là việc đại sự, nàng không thể hỏi thêm.

Đội Nhất cũng không ngủ.

Nàng quay sang, thấy mắt chàng vẫn mở, gương mặt chàng ẩn hiện qua ánh sáng ngọn đèn được đốt từ mỡ cá.

-Chàng nghĩ gì?

Đội Nhất choàng tay ôm lấy nàng:

-Ta nghĩ tới việc đoàn thuyền của Bệ hạ sắp ra đảo

-Nghĩ tới những ả đàn bà trẻ ra cứu viện ư?

-Không.

-Nghĩ tới ngày về?

-Không.

-Thế chàng nghĩ gì?

Đội Nhất ngồi dậy, nhìn Lý Thắm:

-Ta nghĩ đến việc xin Bệ hạ  cho phép thần dân trên đảo chứng kiến việc ta làm đám cưới với nàng.

Lý Thắm vùng dậy, vừa ngạc nhiên vừa cảm động:

-Nhưng đó không phải chuyện lớn..

Đội Nhất nói:

-Nàng đã hy sinh nhiều cho ta… Nay nàng có chửa, ta coi đó là con ta, đã coi đó là con ta thì ta phải cưới nàng. Rồi thần dân, binh lính trong đất liền được bệ hạ sung ra đảo sẽ tham dự đám cưới của nàng với ta… Việc này lớn… Lớn cho ta… Lớn cho nàng… Lớn cho cương giới…

Lý Thắm khóc trên vai Đội Nhất.

Đội Nhất khẽ cúi xuống, áp tai vào bụng nàng, thì thầm:

-Ta đợi một tiếng khóc của con trẻ. Nếu đảo có tiếng khóc của con trẻ có nghĩa là đảo  của con trẻ, dành cho con trẻ. Rồi ta cũng già. Nàng cũng già. Các thần dân cũng già. Chỉ có con trẻ là còn lại trên đảo này… Nàng hiểu ý ta chứ?

Lý Thắm gật đầu.

Đội Nhất vuốt ve Lý Thắm, lại nói:

-Nếu Bệ hạ nghe theo lời khẩn cầu của ta, cho nữ nhi ra, cho trai tráng ra, trăm hòn đảo là trăm cặp đôi, có trai có gái, có đám cưới, có con nít, cả trăm hòn đảo này trong mười năm, trăm năm, ngàn năm nữa đều là của người Việt. Cương giới vì thế mạnh lên. Nước Việt ngàn năm bền vững. Ta tin như thế.

-Rồi chàng sẽ đưa mẹ chàng ra chứ?

-Đúng vậy.

-Mẹ chàng như thế nào?

-Mẹ ta hát hay, múa giỏi nhất vùng.

-Mẹ chàng chấp nhận em chứ?

-Ta tin là vậy.

Lý Thắm ôm cổ Đội Nhất:

-Nếu mẹ em còn sống, mẹ em cũng chấp nhận chàng.

Đội Nhất ôm lấy Lý Thắm. Đã lâu chàng không ôm Lý Thắm như thế này.

Lý Thắm nói nhỏ:

-Nhẹ thôi chàng nhé.

-Ừ…

-Đừng làm con đau chàng nhé.

-Ừ…

-Chàng ơi…

Cát rơi nhè nhẹ trên tấm lưng trần của Lý Thắm, như rắc phấn.

Gằm ghè đe nẹt Lý Bật chán chê, Hứa Văn lựa chiều gió cho thuyền cập vào một hòn đảo. Từ đây về chỗ hòn đảo Đội Nhất đang trú ngụ cũng tới gần một trăm dặm.

Lý Bật nhăn nhở:

-Vẫn tưởng ngài giao con nộp cho Đội Nhất. Ai ngờ, ngài tin con, cũng giao con đường sống. Đảo này sẽ là nơi con canh giữ. Giờ thì nó là của nước Việt, sau chắc chắn thuộc Bắc triều.

Nhìn vẻ mặt Hứa Văn không mấy thay đổi, Lý Bật nói tiếp:

-Ngài có thể về bẩm với Bệ hạ, nếu được Người chu cấp lương thảo, tăng quân, tăng lính, giao vũ khí, nhất định Lý Bật này sẽ quét sạch quân của Đội Nhất, giao nộp toàn bộ mấy trăm dặm đảo này về Bắc triều.

Hứa Văn nhìn sát mặt Lý Bật:

-Ta và Bệ hạ không cần ngươi làm trò ấy.

-Là sao thưa ngài? Lý Bật nhướn đôi mắt ti hí ra nhìn

-Không cần ngươi làm trò cướp đảo. Hiểu ý ta chứ. Bắc triều ta là nước lớn, không cần cướp của ai hết, hiểu chưa?

Lý Bật gãi đầu:

-Bẩm… Con không hiểu.

-Là đại thần nước Việt, sao ngươi ít khôn ngoan nhỉ.

Lý Bật im lặng.

Hứa Văn nói:

-Đất đai Bắc triều ta rộng lớn là do không cướp mà có…

Lý Bật trợn mắt nhìn, miệng lúng búng định nói câu gì đó nhưng thôi.

Hứa Văn hạ giọng:

-Đất của Bắc triều, thì thuộc Bắc triều… hiểu không?

Lý Bật đáp bừa:

-Dạ hiểu. Dạ hiểu. Đất của Bắc triều ắt phải thuộc Bắc triều.

-Hảo hảo- Hứa Văn gật gù.

Sau khi cùng Lý Bật lên đảo, Hứa Văn nhìn toàn bộ vùng đảo hoang sơ, nói:

-Ngươi ở đây không sợ chứ?

-Bẩm ngài không.

-Đảo hoang không sợ bằng nằm xuống huyệt nhỉ?

-Dạ… Ơn Bệ hạ tha mạng.

– Đảo hoang nhưng rồi nó sẽ không hoang. Nó sẽ đông người. Nó sẽ có mốc giới Bắc triều. Nó sẽ được cắm cờ Bắc triều. Hảo à. Hảo à.

Lý Bật cười cười.

Hứa Văn nói:

-Ta cho ngươi tên lính đã sống chết cùng ngươi để phục dịch. Lại cho thêm ít vũ khí cung tên, lại cho cả lương thảo đủ sống vài tháng. Cả lều bạt, đồ dùng, vải vóc, ngư cụ để ngươi tự sống.

Lý Bật khoanh tay:

-Cảm tạ ngài lắm lắm.

Hứa Văn nheo nheo mắt nhìn Lý Bật:

-Gái? Đàn bà? Hảo a?

Lý Bật hiểu, cười to:

-Bẩm ngài. Quý hóa lắm.

Hứa Văn nheo mắt:

-Ta nói những điều hệ trọng, ngươi kém hiểu. Nhắc đến đàn bà, hiểu liền. Hảo à. Hảo à…

Lý Bật cười cười.

Hứa Văn ra hiệu cho lính trên thuyền đưa xuống một ả đàn bà béo mập nhưng gương mặt rất đẹp:

-Con đàn bà này tình nguyện ở lại với ngươi. Ngươi nhớ chăm sóc.

Hứa Văn đặt vào tay Lý Bật một bao nặng, được bọc bởi nhiều lớp vải, nói:

-Đây là vũ khí cung tên thời Tam quốc… Đây nữa, đây là những vật dụng bằng đồng, bằng đá thời cổ của Bắc triều, cách đây cả mấy trăm năm rồi, cả ngàn năm, tất cả đều có khắc chữ Bắc triều ta, có dấu hiệu quốc gia Bắc triều ta… Ngươi hãy chôn xuống đảo, mỗi nơi một ít, số nhiều thì chôn ở trung tâm, chôn sâu, hiểu chứ?

Lý Bật thoáng ngạc nhiên:

-Bẩm ngài, chôn thì dễ, nhưng lúc nào thì lấy lên?

Hứa Văn nhìn trời, nhìn biển, lại nheo nheo mắt nhìn xa xa về hàng trăm hòn đảo nhấp nhô khác:

-Người hỏi câu này hay. Lúc nào thì lấy những thứ chôn cất ấy lên nhỉ? Hà… có thể lúc ấy ta và người đã chết… có thể trăm năm nữa… có thể vài trăm năm nữa… Con cháu Bắc triều sẽ làm việc đó. Hiểu chứ?

Lý Bật  lễ phép:

-Bẩm ngài, con hiểu.

Hứa Văn:

-Con đàn bà này tên là Tiểu Tiểu, nó sẽ giúp ngươi nhiều việc đấy. Hãy đặt tên Việt cho nó.

Tiểu Tiểu cười:

-Hảo à… Hảo à…

Hứa Văn lên thuyền.

Thuyền Hứa Văn kéo luôn thuyền của Lý Bật về nước.

Lý Bật hoảng hốt chạy ra tới mép đảo hét:

-Bẩm ngài… Thuyền của con nữa…

Hứa Văn làm bộ như không nghe thấy.

Tiểu Tiểu đến bên Lý Bật:

-Em mới là thuyền của chàng. Chàng cứ lên chèo tùy thích, hảo a, hảo a.

Lý Bật định chửi “A…a..cái con…” rồi thôi.

Tinh thần anh em rất phấn chấn từ khi Đội Nhất thông báo chắc chắn Hoàng thượng sẽ cho người tiếp viện.

Từ sáng đến tối, Đội Nhất cùng anh em đi thám sát các đảo phụ cận, tìm vị trí làm nhà cửa, lại tìm ra các vách đá san hô lớn để cho khai thác đá xây bờ kè chắn gió cát. Khó khăn nhất vẫn là nước ngọt.

Lý Thắm nói:

-Ngoài cách của em đã làm, không còn cách nào để tích nước được sao chàng?

Đội Nhất gật đầu:

-Vỏ ốc lớn trên các đảo rất nhiều, có thể dùng hứng nước mưa. Nhưng về lâu dài, phải xin Hoàng thượng đồ đựng nước thật lớn mang ra. Không có nước vào mùa khô là nguy ngập. Đảo sẽ đông người. Mùa này thỉnh thoảng có mưa. Mùa khô thì… Ta từng đi biển, ta biết… đôi khi chết vì khát…

Đội Nhất lại cùng anh em sắp xếp lại kho của cải lấy được trên các đảo. Mới đầu, Lý Thắm nhìn thấy vàng bạc còn thích, còn nhìn ngắm, giờ quá nhiều, nên tất cả đều được cất giữ trong các vỏ ốc, chôn xuống cát, đợi thuyền Bệ hạ ra để gửi về dâng nộp.

Lý Thắm nói:

-Em nghe nói, chỉ có các quan đại thần và Hoàng thượng mới nhiều vàng ngọc, giờ thì em và chàng cùng anh em có trong tay cả kho báu, chắc còn nhiều hơn kho báu triều đình…

Đội Nhất cười:

-Hàng trăm năm nay, đảo chẳng ai đặt chân, có đặt chân lên cũng vì bão tố, rồi đói khát bệnh tật mà chết. Kho báu này là trời cho nước Việt, là vật thiêng, Hoàng thượng sẽ dùng nó để mua sắm vũ khí, tích trữ lương thảo, củng cố sức mạnh.

Lý Thắm nhìn ra biển khơi:

-Nếu Hoàng thượng cho thuyền ra, người ra, giờ này cũng phải tới chứ. Mà phải tới lâu rồi chứ. Từ ngày chàng phái thuyền của Lý Đạt vào tới nay là bao nhiêu tháng rồi.

Đội Nhất an ủi:

-Thời tiết không thuận. Sóng gió thất thường. Chắc chắn Hoàng thượng sẽ chọn ngày lành tháng tốt…

Nói thế nhưng ánh mắt Đội Nhất ngày nào cũng ngong ngóng về đất liền, cố tìm kiếm trên cái vệt xanh bát ngát của biển kia, thấp thoáng đoàn thuyền từ quê nhà tiến đến.

Chỉ có mây trắng cuồn cuộn.

Chỉ có nước biển xanh trải dài hút tầm mắt.

Chỉ có những đàn chim hải âu thỉnh thoảng xuất hiện, chao cánh, kêu ríu rít.

Chỉ có thăm thẳm sự chờ đợi mỏi mòn.

Và đêm nào cũng vậy, tiếng thở dài chờ đợi của Đội Nhất lẫn trong tiếng sóng.

Lý Bật không ngờ, Tiểu Tiểu mới chính là Chúa đảo.

Và tên lính từng sống chết với Lý Bật chỉ hăm hở phục dịch Tiểu Tiểu không đoái hoài gì tới mệnh lệnh của Lý Bật.

Nhưng Lý Bật chỉ biết nuốt hận. Vì trong tay Tiểu Tiểu đã có sắc chỉ của Hoàng đế Bắc triều nói như thế.

Lý Bật rốt cuộc chỉ là tên lính phục dịch.

Hóa ra lời lẽ của Hứa Văn chỉ là đầu môi chót lưỡi.

Hóa ra Lý Bật cố hết sức vẫn không làm cho người Bắc triều tin cận.

Từ giờ, Lý Bật chỉ như cái vỏ ốc mượn hồn mà sống.

Ngửa mặt lên trời, Lý Bật tự than:

-Thôi thì mạng sống mới là chính. Ý trời làm sao, ta đành theo vậy. Thời như thế thì ta phải thế… vậy thôi.

Nhưng cái đêm đầu tiên trên đảo hoang mới khủng khiếp với Lý Bật.

Tiểu Tiểu ăn khỏe. Lại sẵn thùng rượu mang theo, Tiểu Tiểu nốc rượu như người ta nốc nước lã.

Lý Bật và tên lính che chắn cho Tiểu Tiểu một căn lều rộng.

Căn lều bé hơn dành cho Lý Bật và Khắc Ngôn- tên thằng lính.

Lý Bật do cả một ngày phải làm quá nhiều thứ, mệt quá ngủ thiếp. Gần nửa đêm Khắc Ngôn đánh thức Lý Bật:

-Tiểu Tiểu gọi ngài qua.

Lý Bật lò dò bước vào lều Tiểu Tiểu.

Tiểu Tiểu cả cười:

-Em tưởng chàng thích chèo thuyền?

Lý Bật bất mãn:

-Nàng cũng biết rồi, thuyền đâu nữa…

Tiểu Tiểu cưới ré lên, đoạn kéo Lý Bật về phía mình, úp mặt Lý Bật vào bộ ngực đồ sộ của ả.

Lý Bật ấm ớ:

-Ta… Ta xin nàng…

Tiểu Tiểu nói:

-Ta là Hoàng thượng ở đảo… Hảo a? Hảo a?

Lý Bật bị Tiểu Tiểu hất ngược lên bụng, xé rách áo quần.

Tiểu Tiểu la hét om sòm.

Lý Bật thì rụng rời chân tay.

Vừa xong đấy, chưa kịp hoàn hồn, Tiểu Tiểu lại lao tới, lại kéo Lý Bật vào ngực ả, lại la hét om sòm.

Rồi cũng vừa mới xong đấy, chưa kịp hoàn hồn, Tiểu Tiểu lại lao tới, lại kéo Lý Bật vào ngực ả, lại la hét om sòm.

Cứ thế cho tới sáng.

Tiểu Tiểu hất Lý Bật xuống cát.

Lý Bật trần truồng, lấm lem cát, nằm đừ ra như con mực phơi nắng.

Tiểu Tiểu cúi xuống nâng mặt Lý Bật lên:

-Chuẩn bị ăn uống đi làm việc nghe chàng. Hảo a? Hảo a?

Khắc Ngôn đào cái hố cát giữa đảo sâu xuống cả gần thân người.

Lý Bật nhìn xuống hỏi:

-Sao hố này đào sâu vậy?

Tiểu Tiểu từ xa tới, tay ả cầm mấy cái lu, cái sành, thêm mấy cung nỏ thời Chiến quốc, nói:

-Đào sâu nữa. Nhưng cái hố này sau khi lấp xong thì phải làm dấu. Hãy dùng súc gỗ kia chôn làm dấu, gỗ này cha ta nói chôn cả ngàn năm vẫn không mục.

Lý Bật dựng súc gỗ lớn được đẽo gọt cẩn thận, lại thấy phía dưới có khắc cả chữ Bắc triều.

Tiểu Tiểu nói:

-Phần có chữ chôn xuống dưới.

Lý Bật hỏi:

-Khắc chữ này là có ý gì?

Tiểu Tiểu cười:

-Là để chàng thuộc em mãi mãi, hàng đêm như đêm qua,  đến hết đời… Hảo à… Hảo à…

Lý Bật đưa tay sau gáy thấy lạnh.

Khắc Ngôn trèo lên miệng hố. Lý Bật đưa các thứ cần chôn xuống rồi lấp cát kín lại, rồi nén chặt.

Khắc Ngôn cầm cái súc gỗ, cùng Lý Bật, cùng Tiểu Tiểu ráng sức thộc cho súc gỗ đã được vuốt nhọn lún thật sâu vào hố.

Bất ngờ cả ba người cùng bật ngửa ra cát.

Súc gỗ đột ngột chuồi sâu vào trong lòng đất, cứ như có ai đang kéo xuống.

Chưa hết bất ngờ, cả ba thấy vọt lên một dòng nước đen sịt,  có mùi hôi nồng nặc.

Hố cát cũng sụt xuống rất sâu. Tiểu Tiểu hoảng sợ bò tới miệng hố cát:

-Đồ đạc của ta đâu rồi, đâu rồi… ta không thấy gì cả… Đốt lửa lên xem nào.

Lý Bật quẹt lửa. Khắc Ngôn cầm nắm bùi nhùi đưa cho Lý Bật:

-Ngài soi xuống đáy hố xem sao.

Lý Bật cầm cái bùi nhùi, cúi xuống, đưa bùi nhùi lửa sát vào trong hố.

Một ngọn lửa lớn phụt thẳng, hất Lý Bật ngả ra sau. Áo quần, tóc râu, mặt mày Lý Bật cháy sạm. Lý Bật hoảng sợ lăn lộn trên cát.

Tiểu Tiểu và Khắc Ngôn vừa phủ cát lên Lý Bật lại vừa đổ cát vội vã xuống hố sâu để dập lửa.

Ngọn lửa tắt.

Lý Bật ngồi, toàn thân đen nhẻm, tóc râu cháy nham nhở, áo quần nơi cháy thì lem luốc, nơi mới bén lửa thì sém vàng.

Tiểu Tiểu vái trời, mặt đầy lo sợ.

Suốt buổi chiều, Tiểu Tiểu cứ lởn vởn đi lại ở cái miệng hố có mùi hôi nồng nặc nhưng lại bén lửa. Khắc Ngôn cũng đứng cạnh chờ sai bảo. Lý Bật thì nằm im trong lều, người  hắn bị bỏng nhẹ.

Tiểu Tiểu hỏi Khắc Ngôn:

-Đang xảy ra chuyện gì vậy?

Khắc Ngôn nói vẻ bí hiểm:

-Dạ bẩm… Nếu con không sai thì đảo này có ma quỷ.

-Ma quỷ?

-Dạ… Ta đã đào trúng huyệt mộ của ma quỷ… Ngài nổi giận

-Ta cũng nghĩ tới điều này.

-Dạ… Hoặc là có ý khác nữa.

-Ý gì?

-Biết đâu là âm mưu của Lý Bật… Hắn đang dụ ta tới đây rồi dùng sức mạnh của quỷ thần, đốt cháy và chiếm đoạt của cải.

Tiểu Tiểu bước sầm sập về lều của Lý Bật.

Lý Bật nhìn những vết bỏng trên người, nghĩ mãi về dòng nước màu đen, hôi hám và rất nhạy với lửa. Lý Bật chợt nghĩ, nếu ta mang dòng nước đen này bán vào đất liền cho thiên hạ đốt lửa thay mỡ cá, mỡ súc vật có khi lãi lớn. Nhưng e Tiểu Tiểu cũng nghĩ tới điều đó. Mà nếu Tiểu Tiểu nghĩ tới điều này thì Hứa Văn cũng biết. Hứa Văn có là quan đại thần trấn giữ biển đảo, nhưng hắn vẫn là con buôn…

Tiểu Tiểu bước vào lều.

Lý Bạt giật bắn cả người.

Lại nghĩ tới đêm hôm qua, Lý Bật lập bập:

-Nàng ạ… Hôm nay ta không được khỏe…

Tiểu Tiểu hỏi:

-Ngươi biết cái dòng nước màu đen hôi hám kia là cái gì chứ?

Lý Bật lắc đầu:

-Ta không biết. Ta cũng như nàng, tất cả đều bất ngờ… Ta chỉ thấy bất an…

Tiểu Tiểu sấn tới:

-Thấy bất an vì bị lộ kế hoạch của nhà ngươi?

Lý Bật tái mặt:

-Nàng nói gì ta không hiểu? Ta vì nàng mà bị bỏng cả thân mình, nàng không thấy sao?

Tiểu Tiểu nhìn vào đôi mắt ti hí của Lý Bật cười khẩy:

-Kẻ mắt ti hí như mắt lươn thế kia, khó tin lắm. Ta không tin ngươi..

Lý Bật nói:

-Nếu nàng tin ta câu này, ta và nàng sẽ giàu có.

Tiểu Tiểu ngồi xuống. Lý Bật nhìn ánh mắt lóe sáng của ả, thầm nghĩ, đàn bà xứ nào cũng vậy, ham hố…

-Nàng biết là cái nước đen ấy đốt cháy được?

-Đúng vậy. Vì thế nhà ngươi mới bị bỏng.

-Thế tức là có thể thay nó để đốt thành lửa, thay được mỡ cá, mỡ động vật, để thắp sáng trong nhà, thậm chí có thể thay cả củi đuốc để nấu nướng.

-Gì nữa. Ta thấy thích nghe rồi đấy.

-Thế tức là có thể mang vào đất liền bán. Không mất tiền mua, chỉ có thu lời, chẳng mấy mà giàu.

Tiểu Tiểu giang tay tát đánh bốp vào mặt Lý Bật khiến Lý Bật ngã ngửa ra cát. Ả xô tới, giạng chân ngồi chồm hổm trên người Lý Bật. Rồi ả kéo Lý Bật vào ngực, lại xé áo quần Lý Bật, lại hò hét, lại gào rống, rồi quăng quật Lý Bật như quăng quật món đồ chơi. Lý Bật đau đớn:

-Xin nàng tha mạng… Xin nàng tha mạng…

-Tha mạng hả? Tha mạng này… ta đang phấn khích, ta đang phấn khích…

Lý Bật bị Tiểu Tiểu lúc vò lại, lúc kéo ra, lúc quẳng lên, lúc đè dúi xuống cho tới khi Tiểu Tiểu như đã thỏa mãn, ả cười hinh hích:

-Nhà ngươi giỏi.

Lý Bật thều thào:

-Nàng đừng khen ta nữa, thực sự là ta không đủ sức.

Tiểu Tiểu nâng gương mặt Lý Bật:

-Ta không khen chuyện đó… Ta khen cái đầu nhà ngươi khôn ngoan, đúng như nhà ngươi nói, ta sẽ giàu có nhờ bán cái thứ nước đốt lửa này cho thiên hạ… Đáng ra hôm nay nhà ngươi bị bỏng lửa, ta tha, nhưng ý kiến nhà ngươi làm ta hứng chí quá. Xin lỗi nhá. Hảo a? Hảo a?

Lý Bật bĩu môi:

-Đại thần Hứa Văn biết chuyện này, đưa thuyền ra vét sạch, nàng sẽ không kiếm được một cắc.

-Láo- Hứa Văn nào dám?

Lý Bật khiêu khích:

-Ngài Hứa Văn là Đại thần canh giữ cương giới biển đảo cho Bắc triều, mọi sản vật không thuộc quyền của Ngài thì thuộc quyền ai?

Tiểu Tiểu kéo Lý Bật ngồi dậy:

-Nhà ngươi ngu lắm. Có điều này, nhà ngươi nghe thì phải giữ kín miệng nếu không muốn mất mạng: Ta là cận thần của Hoàng đế. Ta ra đây không phải tự nguyện ra chơi, hiểu không? Ta ra là vì Hoàng đế. Đàn bà ra đảo  thiên hạ ít ngờ vực hơn lũ quan lại, đúng thế chứ? Ta được Hoàng đế yêu cầu ra đảo để ngăn chặn đường làm ăn của Hứa Văn, hiểu chưa? Ta giả vờ làm phận nữ nhi khiêm nhường vậy thôi, quyền ta còn cao hơn quyền Hứa Văn, hiểu chưa? Ta thấy nhà ngươi thật thà, lại không phải người Bắc triều, ta nói thế để biết mà liệu đường sống.

Lý Bật gật gù:

-Ngay trong nội cung kinh thành cũng chẳng ai tin ai…

-Đúng vậy… Hoàng thượng cho Hứa Văn chức quan đại thần là để quản lý nó chứ không phải để tin dùng nó.

-Vậy là nàng sợ Hứa Văn hớt tay trên cái thứ nước lửa quý giá này.

-Chứ sao. Nên ta cần sự hợp sức của nhà ngươi. Nước này bán cho Nhật Hoàng, bán cho các nước lân bang, không đưa về Bắc triều. Ta sẽ xin Thánh chỉ để Bệ hạ phê chuẩn.

-Nàng biết có được bao nhiêu mà vội vã tính toán thế?

Tiểu Tiểu chần chừ rồi quả quyết:

-Nhiều. Chắc chắn là nhiều. Trong lòng đảo này sẽ toàn thứ nước ấy hết, như cái giếng, múc lên bao nhiêu cũng không hết. Ngươi tin chứ?

-Giá như nàng cho ta biết, ta được bao nhiêu?

Tiểu Tiểu lại lao tới, đè ngửa Lý Bật ra, ngồi chồm hổm trên người:

-Ta thích ngươi nói câu này… Đúng đúng… Có công có hưởng… Ta sẽ báo với Bệ hạ chia cho ngươi, ngươi sẽ giàu có, được chưa?

-Sao nàng tính đến hai chữ giàu có nhanh vậy? Đúng là…

-Ngươi định nói đúng là đàn bà chứ gì? Hảo a. Hảo a. Đúng là đàn bà đấy. Ngươi tính đi, chỉ một chút mỡ cá, mỡ heo đốt đèn là mấy tiền? Nếu trong lòng đảo này có cả một cái giếng nước đen, lấy mãi không hết, chở hàng chục, hàng trăm thuyền cũng không hết, bán khắp thiên hạ, là bao nhiêu tiền? Bao nhiều tiền? Bao nhiêu tiền?

Lý Bật quẫy cựa gương mặt trong bộ ngực đồ sộ của Tiểu Tiểu.

-Giàu giàu… Ta đồng ý là sẽ giàu.

Tiểu Tiểu rú lên:

-Hảo a. Hảo a.

Rồi kéo Lý Bật chạy ra cái miệng hố. Lại gọi Khắc Ngôn tới.

Cả ba ngồi nhìn cái miệng hố. cát thẫm đen, nồng nồng mùi khó chịu.

Tiểu Tiểu vốc một nắm cát thấm nước đen ấy lên, để trên miếng gỗ rồi châm lửa. Ngọn lửa cháy xanh. Tiểu Tiểu lại rú lên:

-Hảo a. Hảo a.

Đêm đó, trong căn lều, thỉnh thoảng Tiểu Tiểu lại nhảy sang, ngồi chồm hổm trên người Lý Bật hỏi:

-Ta sẽ giàu, ngươi tin chứ?

Lý Bật cố vươn người lên thở:

-Tin. Tin. Tin.

Tiểu Tiểu nói:

-Đảo này có thì mấy trăm hòn đảo này đều có thứ nước đen đen ấy, ngươi đồng ý chứ?

Lý Bật im lặng.

Tiểu Tiểu hỏi:

-Mà sao hàng trăm hòn đảo này lại không phải của Bắc triều mà là của nước Việt nhà ngươi?

Lý Bật im lặng.

Mấy hôm sau, ngày nào Tiểu Tiểu cũng đứng nhìn ra biển. Lý Bật hỏi:

-Nàng nhớ nhà?

-Không. Ta đợi thuyền của Hứa Văn ra.

-Để làm gì?

-Để cho Khắc Ngôn về báo với Bệ hạ về dòng nước đen quý giá.

-Sao không cho ta đi?

-Không. Việc của người Bắc triều ta, nhà ngươi không có quyền.

Lý Bật tự ái:

-Nhưng đây là đảo nước Việt, Đội Nhất cho ta…

Tiểu Tiểu nhìn Lý Bật:

-Ta đang đứng ở đây, ngươi dám nói là đảo nước Việt?

Lý Bật im lặng.

Tối đó, Lý Bật đi lang thang trên đảo.

Đôi mắt ti hí của hắn cụp xuống. Hắn căm giận Tiểu Tiểu. Hắn nghĩ tới việc rồi Tiểu Tiểu sẽ hất chân hắn ra biển để giành lấy đảo, giành lấy dòng nước đen quý giá, bịt miệng hắn, thủ tiêu hắn…

Nếu hắn không phạm tội tạo phản?

Nếu hắn không vấp phải cái án tử và tru di tam tộc vì tội tạo phản?

Nếu hắn vẫn là quan đại thần nước Việt?

Hắn hiểu, với người Bắc triều, hắn chỉ là thứ vật dụng, có ích thì dùng, vô ích thì bỏ, như rác rưởi. Lời của họ lá mặt lá trái, không biết hiểu đường nào.

Hắn muốn gặp Đội Nhất.

Nhưng liệu những lời của hắn còn làm ai tin?

Một kẻ đã vì ham danh, ham lộc mà bán cả cương giới, liệu nói còn ai tin?

Bắt đầu là tiếng thổi từ cái vỏ ốc của một thủy binh trên đảo.

Âm thanh từ những cái vỏ ốc của thủy binh thổi nối nhau, nối nhau, vang động khắp bốn phương tám hướng.

Đội Nhất kéo tay Lý Thắm chạy lên đỉnh một cồn cát cao nhất.

Từ rất xa, trên nền xanh ngắt của biển, lấm chấm những con thuyền đang tiến lại gần.

Lý Thắm khóc òa.

Đội Nhất nắm tay nàng.

Những thủy binh cũng ào ào chạy lên.

Đội Nhất nói:

-Anh em mang cờ xí cắm ở bến đảo cho đội thuyền Hoàng thượng biết mà vào.

Đợi gần nửa ngày thì thuyền cập bến.

Cả đoàn thuyền nguyên vẹn. Thủy binh, dân binh đông nghịt.

Ríu rít các cô gái trẻ.

Lý Đạt lao từ thuyền xuống biển, bơi ào ào vào bờ, ôm cứng lấy Đội Nhất, rơm rớm nước mắt. Anh không nói gì cả, cứ ôm cứng lấy Đội Nhất.

Đội Nhất cũng không biết nói gì cả.

Anh em thủy binh nhảy từ thuyền xuống, mang theo rất nhiều cờ quạt, cắm dày đặc trên  bến đảo.

Đội Nhất đón mọi người, hướng dẫn cho họ đường lên đảo.

Lý Đạt mang tới cho Đội Nhất thánh chỉ của Hoàng thượng phong cho Đội Nhất làm quan đại thần trấn giữ đảo cát vàng.

Lý Đạt lại cầm trên tay một thánh chỉ nữa:

-Còn cái này…

Đội Nhất hỏi:

-Là gì nữa?

-Thánh chỉ này dành cho Lý Bật.

Đội Nhất gật đầu.

Lý Đạt nói:

-Bệ hạ biết Lý Bật đã ra đảo cát vàng…

Đội Nhất gật đầu:

-Ra theo lệnh của Hoàng đế Bắc triều.

-Đúng vậy.

Đội Nhất cầm Thánh chỉ:

-Ta sẽ giao cho hắn.

Lý Thắm tíu tít trước vòng vây của cả trăm thiếu nữ. Nàng dẫn các thiếu nữ lên đảo.

Lần đầu tiên, trên mảnh đất đảo xa có thêm nhiều những dấu chân con gái. Những dấu chân con gái in trên nền cát ướt, nối nhau, nối nhau, mềm mại và xinh xắn, làm đảo như trẻ trung ra.

Đội Nhất ngắm đảo, ngắm dân binh, ngắm thủy binh, ngắm các cô gái mà lòng chàng phơi phới vui.

Chàng quay mặt về đất liền, xúc động:

-Hoàng thượng vạn tuế.

Quan đại thần Đội Nhất giao Lý Đạt làm đô đốc thủy binh. Lại giao cho Lý Thắm chức đô đốc dân binh. Lại tạm đặt tên cho năm đảo kế cận: đảo San Hô, đảo Ốc, đảo Đá Hút, đảo Vú Mẹ, đảo Chim Yến. Mỗi đảo chừng 40 người, gồm 20 trai tráng thủy binh và dân binh, 20 nữ nhi. Lý Đạt đưa quân về đảo Ốc, xa nhất. Đội Nhất và Lý Thắm ở lại đảo chỉ huy: đảo Vú Mẹ. Trên năm thuyền ra, mỗi đảo cho một thuyền. Khí giới, ngư cụ, chài lưới, lương thảo, lều bạt, tre nứa… tất cả cứ thế chia đều cho năm đảo.

Lý Đạt nói với Đội Nhất:

-Bẩm Đại quan, chia anh em dân binh, thủy binh về các đảo thực sự không khó, ai cũng tình nguyện, vui vẻ, ở đâu cũng là để bảo vệ cương giới. Duy có các cô gái…

Lý Thắm gật đầu:

-Nếu chàng cho phép, em nghĩ, các cô gái được quyền chọn đảo mà mình thích, tức là chọn ai trong số thủy binh, dân binh trai tráng ấy mà mình thích, thì theo chân họ về đảo.

Đội Nhất hỏi:

-Làm sao biết họ thích ai?

Lý Thắm âu yếm nhìn Đội Nhất:

-Chỉ có chàng là không biết, còn mọi người họ tự biết. Như ngày trước, chàng không chọn em mà em tự nguyện chọn chàng.

Đội Nhất bối rối nhưng cũng gật đầu đồng ý:

-Ta giao nàng làm việc này nhé.

Lý Thắm bước ra trước anh em:

-Đại quan Đội Nhất đã phân anh em về năm đảo. Chị em cũng thế chia ra về theo năm đảo. Dù mới quen hơi bén tiếng, nhưng ta cũng biết, ở kinh thành thì mọi người đã sống cùng nhau, ngày tập, đêm hát hò, những ngày lênh đênh trên biển cũng thêm lần nữa gần gũi. Nay ta nhận lệnh của Đội Nhất, chia nam giới ra thành năm nhóm, các em gái thấy trai tráng nào mình thấy ưng ý mà chưa kịp nói ra thì cứ gia nhập nhóm có người mình thích. Làm thử coi.

Các trai tráng hò hét tưng bừng, vẫy tay, gọi tên, réo tên, lại hát ghẹo, hát đối, cốt cho các nữ nhi chú ý.

Các cô gái sau những giây phút bẽn lẽn thì bất ngờ xô giạt ra, tỏa ra như đàn chim ùa ra khỏi tổ mẹ, họ chạy tới chạy lui, ngó nghiêng, nắm tay, cầm tay, liếc mắt, gọi tên, chỉ trong mấy phút đâu vào đấy cả.

Năm nhóm đủ hết, trai có, gái có, gương mặt ai cũng ngời ngời hạnh phúc.

Rồi mọi người theo thuyền của mình.

Đội Nhất đã hứa, cứ vài tuần trăng, lại cho anh em các đảo qua lại với nhau.

Lý Thắm hứa, chị em nào có nguyện vọng gì cứ nói, Lý Thắm sẽ tấu lên Đội Nhất.

Lý Đạt hứa, trai gái hợp lòng nhau, sẽ báo lên Đội Nhất cho tác hợp.

Nhìn những con thuyền đang đi xa, về các đảo chốt giữ, Đội Nhất cầm tay Lý Đạt:

-Giờ thì ta thấy thỏa lòng.

Lý Đạt nói:

-Lúc nào thì ngài đi gặp tên tạo phản Lý Bật để đưa Thánh chỉ của Hoàng thượng?

Đội Nhất cầm tay Lý Đạt:

-Đi luôn. Đi với ta. Đi với ta đã rồi về đảo Ốc sau cũng được, việc này quan trọng.

Lý Đạt hỏi:

-Ngài biết rõ hòn đảo mà Lý Bật đang sống chứ?

Đội Nhất xòe bàn tay ra:

-Cả trăm đảo lớn nhỏ của nước Việt ở cương giới này ta nắm chắc mà.

Đội Nhất dặn dò Lý Thắm cho người dựng lều, cho người gom hàng hóa, của cải thu được để đợi gió thuận mang lên thuyền đưa vào dâng nộp Hoàng thượng.

Đội Nhất và Lý Đạt lên thuyền.

Lý Đạt không quên đưa theo 5 thủy binh làm hộ vệ.

Mọi người đang xuống thuyền thì có cô gái chạy theo:

-Lý Đạt… Chàng bỏ rơi em sao?

Đội Nhất nhìn Lý Đạt khích lệ:

-Nàng đấy à?

Lý Đạt:

-Dạ… Nàng tên là Huệ Hương…

Đội Nhất nói:

-Thôi được, cho nàng đi theo thuyền với ta và Lý Đạt

Huệ Hương lễ phép quay lại nhìn Lý Thắm:

-Em xin phép chị… đô đốc…

Lý Thắm cười:

-Lý Đạt văn võ song toàn, sao em khéo chọn?

Mọi người cười và xuống thuyền.

Thuyền của Hứa Văn đi qua đảo. Tiểu Tiểu vội vàng đưa cái ống quyển đựng thư cho Khắc Ngôn, thì thầm:

-Nhà ngươi nhớ đây là thư tối mật, phải đưa tận tay Bệ hạ.

Khắc Ngôn gật đầu.

-Nói với Bệ hạ, chi cần Bệ hạ ra sắc chỉ, ta sẽ giết Lý Bật để công khai cướp đảo, khai thác giếng nước đen cho Bệ hạ.

Khắc Ngôn gật đầu.

-Ngay cả với quan đại thần Hứa Văn, nhà ngươi cũng không được để lộ.

Khắc Ngôn gật đầu.

-Trong thư ta đã nói, nhưng nếu Bệ hạ hỏi, nhà ngươi cũng phải nói thêm, nhanh chóng mang thuyền lớn, mang dụng cụ, mang quân ra đây, nhanh chóng hút cho thật nhiều nước đen này, càng nhiều càng tốt, càng nhanh càng tốt, hiểu không?

Khắc Ngôn gật đầu.

-Đây nữa. Cái hũ sành này đựng cái thứ nước đen quý giá, ngươi phải dâng nộp cho Bệ hạ.

Khắc Ngôn gật đầu.

-Đi đi.

Khắc Ngôn hỏi:

-Bẩm… Thần có phải trở lại đảo?

-Có có có. Ngươi phải trở lại đảo theo thuyền của Bệ hạ. Ngươi sẽ được ta chia phần, ngươi cũng sẽ giàu có.

Khắc Ngôn lội xuống biển, ra sát thân thuyền buôn thì theo thang dây trèo lên.

Hứa Văn chắp tay đứng ở mạn thuyền:

-Hảo à. Hảo à.

Tiểu Tiểu cười toe toét.

Sau một mỏm cát, Lý Bật quan sát thấy hết. Đêm qua Lý Bật còn lén đọc được thư Tiểu Tiểu viết cho Bệ hạ Bắc triều. Cô ả đã lật tay trong chớp mắt. Tới đây, không những quân của Bệ hạ Bắc triều ra chiếm đảo, chiếm quyền khai thác dòng nước đen tạo lửa trên đảo, mà số phận của Lý Bật cũng vì thế mà sẽ bị thủ tiêu để Bắc triều giữ được bí mật.

Lý Bật căm hờn lắm. Ngay đêm qua đọc thư xong, hắn đã cầm lấy một thỏi sắt nhọn, định đâm nát mặt Tiểu Tiểu, nhưng rồi hắn đã không làm, hoặc nói đúng ra là chưa dám làm.

Lý Bật nhớ câu: tương kế tựu kế.

Lý Bật nghĩ cách, vừa phải cứu sống mình, vừa phải làm Chúa đảo.

Chưa nghĩ ra cách nào thì thuyền Hứa Văn đã tới, nhận thư Tiểu Tiểu.

Tình hình gấp quá. Lý Bật chui vào lều nằm, vò đầu bứt tai chưa biết tính sao.

Đợi cho thuyền rời xa đảo, Hứa Văn gọi Khắc Ngôn tới:

-Tiểu Tiểu không nghi ngờ gì việc nhà ngươi là tay chân của ta chứ?

-Bẩm ngài không. Trái lại rất tin tưởng.

-Hảo. Hảo. Cô ả đưa thư cho Bệ hạ?

-Bẩm đúng thế.

-Đưa ta xem.

Khắc Ngôn đưa thư. Hứa Văn đọc xong thư, ngửa mặt cười to.

-Tiểu Tiểu ơi là Tiểu Tiểu, tham lam cũng đàn bà, ngu ngốc cũng đàn bà, thâm hiểm cũng đàn bà…

Khắc Ngôn hỏi:

-Ngài nói vậy là sao?

Hứa Văn đắc chí:

-Công nhà ngươi lớn lắm, ta sẽ ban thưởng. Gái đẹp ta không thiếu. Vàng bạc ta không thiếu. Nhưng ta muốn ban thưởng nhà ngươi điều khác, nhà ngươi sẽ được làm Chúa đảo. Hảo a?

Khắc Ngôn quỳ xuống:

-Đa tạ. Đa tạ. Nhưng bẩm ngài, Tiểu Tiểu là tay chân tin cậy của Bệ hạ, làm vậy e đắc tội.

Hứa Văn:

-Ta vốn là con buôn. Con buôn mà lại được chấp chính. Hiểu không. Con buôn mà chấp chính thấy có lãi là làm. Hiểu chưa?

-Dạ dạ…

-Mà ai chấp chính lại không là con buôn? Hiểu chưa?

-Dạ dạ…

-Con buôn lấy tiền bạc làm vốn liếng. Kẻ chấp chính lấy con dân làm vốn liếng. Hiểu chưa?

-Dạ dạ.

-Con buôn có khi lời, có khi lỗ. Lời thì ăn, lỗ thì chịu. Kẻ chấp chính lời thì sống, lỗ thì chết. Hiểu chưa?

-Dạ… Ý ngài là…

-Ta sẽ có cách báo với Bệ hạ để nhà ngươi thay Tiểu Tiểu làm Chúa đảo. Nhà ngươi thay ả, thì ả phải chết. Hiểu chưa?

-Dạ dạ… Xin hỏi Ngài, liệu thông tin phát hiện cái giếng chứa cái thứ nước đen đen, hôi hám đó có làm ngài mừng không, có làm Bệ hạ để ý không?

Hứa Văn cầm cái hũ sành nhìn nhìn, ngửi ngửi, đoạn dùng miếng giẻ nhúng vào hũ, châm lửa, lửa cháy phừng phừng.

Hứa Văn cười hả hê rồi nói:

-Mày nghe cho rõ đây. Nhận được thông tin này Bệ hạ có ốm nặng cũng vui mừng và vùng dậy. Cả nước Bắc triều nhận tin này sẽ hoan ca.

Khắc Ngôn trố mắt:

-Hoan ca là sao thưa ngài?

Hứa Văn khịt mũi:

-Hoan ca là ca hoan, ca hoan là ca vui… Hảo a… Hảo a…

Tiểu Tiểu chạy như ma đuổi vào lều, dựng ngược Lý Bật:

-Dậy mau… dậy mau

Lý Bật nheo mắt:

-Có chuyện chi?

Tiểu Tiểu trừng mắt:

-Ngươi hỗn. Hỏi ta mà dám hỏi trống không? Hay ngươi thấy trên đảo chỉ còn ta và ngươi, nên ngươi lộng quyền?

Lý Bật nói:

-Ta biết, mạng sống ta đang nằm trong tay nàng.

-Nói vậy là ngươi có ý gì?

-Nàng biết là có ý gì.

-Ngươi đã lén đọc thư của ta gửi Bệ hạ?

-Nếu vậy thì sao, thưa nàng?

-Đáng tội chết.

-Ta không sợ chết nữa, nàng hiểu không? Với nước Việt, ta đã là tội đồ, là tử tù, với Bắc triều, ta tưởng ta được đối đãi, nào hay cũng là cá nằm trên thớt. Như vậy thì còn gì nữa làm ta sợ đây?

-Có ta đây, ai dám giết ngươi.

Lý Bật vươn vai:

-Ta biết mạng ta cuối cùng cũng chết. Nhưng nếu chết dưới tay con đàn bà như nàng thì không bao giờ? Hiểu không?

Lý Bật hét lên.

Tiểu Tiểu lùi lại:

-Nhà ngươi…

Lý Bật cả cười:

-Nàng sợ ta rồi, đúng không?

Tiểu Tiểu:

-Nếu ngươi nghe lời, ta hứa sẽ bảo đảm mạng sống cho ngươi.

Lý Bật:

-Người Bắc triều nói buổi sáng khác, buổi chiều khác, các người trong nội cung với nhau còn trở mặt, còn không tin nhau, ta quá biết.

Tiểu Tiểu gật đầu:

-Đúng thế. Ngươi nói đúng. Muốn sống thì không nên tin ai. Ta cũng không cần ngươi tin ta. Nhưng nếu ngươi manh động, ngươi chết chứ không phải ta chết.

Lý Bật tự ái:

-Vậy sao?

Tiểu Tiểu hét một tiếng, nhảy đứng người lên rồi lao tới, hất bàn chân vào Lý Bật, cú hất chân mạnh đến mức, Lý Bật bị bay tung lên cao rồi đổ gục xuống như một thân chuối.

Tiểu Tiểu nói:

-Ta vốn con nhà võ. Ngươi biết chưa?

Lý Bật im lặng.

Tiểu Tiểu cầm cổ áo, dựng ngược Lý Bật dậy:

-Nhìn đi, thuyền ai đang vào đảo. Có phải thuyền nước Việt? Có phải thuyền của Đội Nhất.

Lý Bật nhìn ra biển, chân bỗng khụy xuống:

-Ta chết chắc rồi…

-Cái gì?

-Ta chết chắc rồi… Nàng cứu ta… Nàng cứu ta… Đội Nhất đã mang thánh chỉ Bệ hạ nước Việt ta ra gặp ta xử trảm. Nàng cứu ta.

Lý Bật nằm bẹp xuống cát.

Tiểu Tiểu quay nhìn con thuyền của Đội Nhất đang lừ lừ tiến vào.

Trên thuyền, Đội Nhất đứng ở mũi, đưa cái vỏ ốc lên thổi một hồi dài.

Lý Đạt  bước vào lều, nhìn Lý Bật đang ngồi co ro bên cạnh Tiểu Tiểu. Tiểu Tiểu đứng dậy, khúm núm:

-Bẩm đại quan… Thần chỉ là phận nữ nhi, làm thân nô lệ ngày đêm phục dịch ngài Lý Bật đây, xin đại quan tha mạng.

Lý Đạt nhếch mép:

-Khá khen ngài lắm, Lý Bật. Đã tạo phản, đã bỏ trốn, còn được Bắc triều cấp cho lều bạt, cấp cho lương thảo, cấp cho đàn bà phục dịch, há hơn lộc trời lộc biển của Bệ hạ ta?

Lý Bật run lẩy bẩy:

-Dạ bẩm… Thần biết tội… Thần biết tội… Cùng đường mới phải ở đây… Đừng nghe ả này nói, thân phận của Lý Bật giờ khổ như con chó, cay đắng nhục nhã trăm bề, giờ ân hận thì cũng quá muộn rồi…

Lý Đạt nói:

-Ngài không ra gặp Quan đại thần Đội Nhất sao?

Lý Bật trợn tròn mắt:

-Đội Nhất… Quan đại thần?

Lý Đạt đưa tay vuốt thân kiếm đeo bên hông:

-Những người trung chính không làm quan đại thần há để loại như ngươi tiệm quyền. Đi ra.

Lý Bật chui ra, lấm lét nhìn về phía Đội Nhất và anh em thủy binh, rồi tiến tới, chân lún trong cát, bàn chân run rẩy như tưởng sụp xuống trên cát.

Lý Bật nhìn Đội Nhất. Lại nhìn anh em thủy binh đằng đằng sát khí. Lại nhìn cả cô gái Huệ Hương đứng phía sau. Lại len lén nhìn lưỡi kiếm trên tay Lý Đạt.

Đội Nhất nói:

-Ta vẫn tưởng ngài sống cô đơn, sống như con chuột, đêm nằm hang, ngày phơi nắng, hóa ra Bắc triều cũng biết công trạng của ngài mà cấp cho lều bạt, cấp cho đàn bà, cấp cho lương thảo.

Lý Bật:

-Dạ bẩm… Chuyện này…

Đội Nhất nói:

-Còn nhớ khi ngài làm Quan đại thần ở Hoàng cung, đi một bước, người hầu kẻ hạ, ho một lời tiếng dạ râm ran. Lại được Bệ hạ tin dùng. Lại được cấp bổng lộc, cấp xe ngựa, tưởng sau Bệ hạ là đến ngài, không ai quyền lực hơn nữa. Tưởng như thế thì ngài đem cả trí lực, sức cốt mình phụng sự Bệ hạ, phụng sự nước Việt. Ai hay, chỉ mới nhìn thấy bọn ta đưa vàng ngọc của cải ở đảo vào dâng nộp triều đình, đã sinh lòng tham. Người nghèo có tham thì tham miếng cơm manh áo là cùng. Làm đến quan đại thần mà nảy lòng tham là tham cả cương giới, cả vận mệnh nước nhà, ước chi ngài ăn tươi nuốt sống cả nước Việt, ước chi ngài ôm cả nước Việt đi cống nộp để nhận về bổng lộc ngài cũng cam lòng. Vậy mới có chuyện ngài bí mật sang Bắc triều, ton hót, bày đường, những mong Bắc triều lấn chiếm cương giới, o ép nước Việt, tạo cơ hội cho ngài lên Bá vương. Làm đến quan đại thần mà mang lòng phản trắc là có hại đến muôn dân trăm họ. Làm đến quan đại thần mà tham lam, triệt hạ đến muôn dân trăm họ. Làm đến quan đại thần mà vẫn khát danh, khát tiền, khát lộc là làm hại đến muôn đời danh tiếng của tổ tiên. Ta nói vài lời thế, ngài thấy không oan chứ?

Lý Bật khép đôi mắt ti hí xuống, mắt hắn chỉ còn nhìn được một nhúm cát dưới chân mình.

Đội Nhất lại nói:

-Còn nhớ khi ngài làm Quan đại thần ở Hoàng cung, dù Bệ hạ đã ra thánh chỉ kêu gọi người hiền tài đặng giúp Bệ hạ gây dựng đất nước vững bền, ai có tài hiền vào ra mắt Bệ hạ, ngài cũng tìm cách này cách khác dèm pha, dựng chuyện, vu khống để gạt đi. Ngài chỉ biết tìm kiếm lôi kéo con cháu vào triều, đắp lên cái mặt chữ nghĩa cho họ, thổi vào cái hơi hám trung nghĩa cho họ, rồi bày binh bố trận, xếp việc người này, nâng đỡ người kia khiến dân chúng phàn nàn, người có chính kiến thì báng bổ triều đình, kẻ xấu thì thừa cơ nịnh bợ. Nếu Bệ hạ không cao kiến, không trung tín với muôn dân, chỉ biết nghe lời xiểm nịnh, để gạt đi những thuộc hạ của ngài đã cài cắm, thì bây giờ Hoàng triều e nhung nhúc ruồi bọ kiểu như ngài, khoác áo đại quan mà gan ruột tiểu nhân, miệng hô ba chữ vì nước Việt mà ngó chăm chăm vào túi riêng, lại hùa theo kế hiểm ngoại bang, bán cả nước Việt mà lòng không mảy may thấy nhục. Một nước Việt như thế, lại có một quan đại thần như ngài, đó là vinh hay nhục?

Lý Bật im lặng.

Đội Nhất nhìn đảo, nhìn trời, nhìn biển, nói tiếp:

-Còn nhớ thời còn trai trẻ, ta và ngài đều là bạn học. Ta thì ra trận tiền, ngày đêm vùi mình trong khói lửa. Còn ngài thì lui vào chốn kinh thành, thấm thoắt có mấy năm đã được Bệ hạ tin dùng, đưa lên hàng Đại quan. Bệ hạ tin dùng là những mong ngài đưa cái hiểu, cái biết ra phụng sự thiên hạ. Ngài giỏi mà. Ngài thông minh lắm mà. Sức học của ngài nào có kém cạnh chi ai. Bệ hạ nhìn ngài thế là phải, tin dùng ngài thế là phải. Nhưng con mắt ngài bé mà nhìn quá xa, thân xác ngài không lớn mà ước quá cuồng, mắt nhìn quá xa dễ đui, ước quá cuồng dễ thành gian tà. Thế nên ngài mới tạo phản để cầu cho cái danh cuồng của ngài đến nhanh, cầu cho cái mơ ước bá vương của ngài đến nhanh. Cầu như thế, ước như thế, bán nước mua danh như thế nên giờ ngài mới thế này đây. Than ôi, từ một quan đại thần trăm họ đều nể mặt, giờ như kẻ thất phu, sống cuộc sống như bọn thảo khấu, ở trên đất Việt mà bị người Việt ruồng bỏ, chạy sang Bắc triều lại bị Bắc triều lợi dụng, mắt nhìn không quá bàn chân, ngày đêm bơ phờ toan tính, sống chết chỉ trong gang tấc, tinh thần bạc nhược, thân phận bọt bèo chó má, nhục nhã, đắng cay, tấm gương của ngài chắc cũng phải nêu ra cho trăm họ nước Việt thấy đó mà tránh, quan quân nước Việt thấy đó mà khinh bỉ.

Đội Nhất nhìn Lý Đạt:

-Bệ hạ ra Thánh chỉ về tội tạo phản của ngài, ngài tiếp chỉ.

Lý Bật sụp xuống cát, đầu cúi rạp trên cát, toàn thân run rẩy.

Lý Đạt sai thủy binh đứng thành hàng sau lưng Lý Bật, gươm kiếm tuốt ra.

Mắt Lý Bật ngó nghiêng, nước mắt rơi lã chã.

Tiểu Tiểu đứng  lấp ló ở căn lều phía xa cũng hồn xiêu phách lạc.

Lý Đạt trịnh trọng lấy ổng quyển trong áo ra, trịnh trọng mở ống quyển, đưa ra Thánh chỉ, giăng cao trước mặt chuẩn bị cất tiếng đọc thì khựng lại.

Lý Đạt bước lại gần Đội Nhất:

-Bẩm đại quan…

Lý Đạt giăng thánh chỉ trước mắt Đội Nhất. Thánh chỉ trống trơn không có một chữ nào.

Lý Đạt hỏi nhỏ:

-Thánh chỉ  thế này, ý Bệ hạ là…

Đội Nhất gật đầu:

-Ta hiểu.

Lý Đạt ngạc nhiên:

-Ngài hiểu sao?

Đội Nhất nói:

-Đưa Lý Bật đứng dậy…

Lý Đạt xốc nách cho Lý Bật đứng dậy.

Đội Nhất bước tới, giăng Thánh chỉ ra trước mắt Lý Bật:

-Ngài hiểu ý Bệ hạ chứ?

Lý Bật run bần bật:

-Bệ hạ cho thần tự xử?

Đội Nhất:

-Không. Ngài hãy giữ Thánh chỉ không có chữ này. Lấy công chuộc tội. Có công trạng gì thì ghi vào Thánh chỉ, mạng sống của ngài và dòng họ của ngài phụ thuộc vào công của ngài. Ngài hiểu chứ?

Lý Bật tay nâng nâng Thánh chỉ, nước mắt trào ra:

-Bệ hạ…

Đội Nhất nói:

-Ta vẫn cho ngài ở lại đây. Chuyện gì không nói thì không nói. Chuyện gì cần báo thì phải báo. Giờ ngài cần gì để nói với ta không?

Lý Bật nói nhỏ:

-Có một việc…

Đội Nhất bước tới gần.

Lý Bật nói vắn tắt, Đội Nhất gật đầu.

Đội Nhất nói:

-Tối nay người của ta sẽ tới. Ngài phải giữ quan hệ bình thường với người Bắc triều. Ta đi.

Đội Nhất, Lý Đạt và mọi người xuống thuyền.

Lý Bật vẫn đứng, trong tay cầm Thánh chỉ.

Tiểu Tiểu đợi cho thuyền đi thật xa, rón rén chạy tới:

-Sao thế… ta tưởng ngươi đã bị chém đứt đầu… Đây là thánh chỉ ư? Có thấy viết gì đâu? A… Ta biết… Như ở Bắc triều, thế này là người có tội tự xử… ta biết… Luật triều đình ta biết.

Lý Bật im lặng.

Tiểu Tiểu nheo mắt nhìn:

-Ngươi tự xử hay chính ta giúp ngươi tự xử?

Rồi cười toe toét.

Thuyền dừng giữa biển. Đội Nhất ôm vai Lý Đạt:

-Ta phải giao đệ một việc.

Lý Đạt hăng hái:

-Không có việc gì là đệ không làm. Trong triều là quan hệ quan quân, ngoài biển khơi là quan hệ anh em, ngài là đại ca của đệ, cứ nói.

Đội Nhất nói:

-Thuyền sẽ neo ở đây. Tối đến, đệ phải bơi vào đảo gặp Lý Bật.

Lý Đạt nắm tay Đội Nhất:

-Đệ hiểu.

Hứa Văn lệnh cho quan địa phương, chuẩn bị ngay một cỗ xe ngựa tốt, lập tức đưa Hứa Văn và Khắc Ngôn về Kinh thành.

Xe ngựa chạy suốt mấy ngày đêm thì tới.

Bệ hạ Bắc triều biết có tin mật đắc dụng từ cương giới đảo mang về thì vội vàng cho yết kiến.

Nhìn Hứa Văn và Khắc Ngôn mặt mày nhợt nhạt vì mệt mỏi, Bệ hạ cảm động ban cho mấy lời khen ngợi rồi nôn nóng hỏi:

-Có chuyện cơ mật chi từ cương giới biển?

Hứa Văn to nhỏ:

-Bẩm Bệ hạ, đây là tên Khắc Ngôn, kẻ hầu hạ cho Tiểu Tiểu ở đảo Cát vàng. Hắn mang thư của Tiểu Tiểu dâng nộp Bệ hạ.

-Mau mau đưa ta coi- Bệ Hạ sốt sắng.

Bệ hạ đọc thư, đọc tới ba lần rồi sai mang rượu tới, ban cho Hứa Văn, ban cho Khắc Ngôn rượu ngon. Lại ban cho Khắc Ngôn mấy thỏi vàng và cho về thăm quê. Còn lại Hứa Văn và mấy quan đại thần cùng Bệ hạ.

Hứa Văn dâng lên cái hũ sành:

-Thưa Bệ hạ… Đây là vật chứng.

Lính hầu mang ra chậu sắt. Hứa Văn nghiêng hũ sành, đổ dòng nước đen hôi hám ra chậu. Cả Bệ hạ và các quan đều bịt mũi, chê hôi thối.

Hứa Văn lại lấy mảnh vải, nhúng vào chậu, đoạn châm lửa. Lửa cháy ngùn ngụt trong chậu, khói đen nghi ngút.

Bệ Hạ quên mình là Bệ hạ, không giữ ý tứ gì nữa, co chân chồm hổm trên long sàng reo hò:

-Hảo a. Hảo a. Hảo hảo a.

Hứa Văn nói:

-Thiên hạ ngàn năm nay không có lửa là chết. Lửa thì phải dùng củi, dùng mỡ cá, mỡ trăn, tốn kém, phiền phức. Thứ nước này nếu ta có thì thiên hạ không. Thứ nước này là lửa. Đây là loại lửa quý giá, đắc dụng. Nếu ta có, ta cưỡi đầu cưỡi cổ thiên hạ. Dưới hòn đảo này có nhiều vô cùng vô kể. Các hòn đảo khác cũng sẽ có. Bắc triều ta không cướp lấy cơ hội này thì không còn cơ hội thứ hai.

Bệ hạ gật gù:

-Hứa Văn nói phải lắm, không còn cơ hội thứ hai.

Một quan đại thần khẽ nói:

-Nhưng đấy là đảo nước Việt. Trăm hòn đảo khu vực này đều là của nước Việt thưa Bệ hạ.

Một quan đại thần khác lên tiếng:

-Cướp. Ta là nước lớn, quân hùng tướng giỏi, thuyền bè lớn, vũ khí nhiều, thấy vật ngon mà không đánh cướp há lại dành cho nước Việt?

Một quan đại thần khác cũng nói:

-Nếu xin ắt nước Việt chẳng dại cho. Thời nay, cái gì cần thì cướp. Xin Bệ hạ chuẩn tấu.

Hứa Văn nói:

-Đánh cướp đôi khi cũng là việc phải làm. Thế cùng phải thế. Nhưng chưa tới lúc thế cùng, Bệ hạ nên cân nhắc. Nói như Bệ hạ thường dạy, có mà không cần cướp mới hay.

-Hảo. Hảo- Bệ hạ vỗ đùi- Khá khen Hứa Văn nói trúng ý ta- Đúng đúng. Ta phải có mà không cần cướp. Hảo hảo.

Đang cười, bất ngờ Bệ hạ nhìn Hứa Văn:

-Việc này giao cho khanh. Nếu thuận ta ban thưởng lớn. Nếu không thuận, khanh chịu khó nhận phạt, cốt là yên bề thiên hạ.

Hứa Văn ngạc nhiên:

-Bẩm Bệ hạ, thần không hiểu.

Bệ hạ nhìn Hứa Văn, lại nhìn các quan đại thần, chậm rãi:

-Ta có ý này. Dùng nước lớn mà đè bẹp nước nhỏ, cướp lấy đồ quý mang về, âu việc đó ngàn năm nay các quốc vương đã từng làm, làm thế thì được, nhưng được thì ít mà tiếng thì nhiều, lại gây thù oán, đời này họ không trả thù được ta thì đời sau họ trả, lại xương rơi máu đổ, thiên hạ đại loạn, tiếng xấu loan truyền, các nước lân bang nhìn ta không tâm phục khẩu phục. Chi bằng, bề ngoài phải thiết lập bang giao bằng hữu, ta và nước Việt càng phải như trai gái kết tóc xe duyên, duyên càng thắm, tình càng bền, bên ngoài thì vậy, còn bên trong, coi như Hứa Văn đóng vai thảo khấu, xông ra đảo, cướp lấy, hút lấy thứ nước lửa quý giá. Thành công thì Bắc triều giàu có, nhỡ có tai tiếng xung đột gì thì ta nói với nước Việt đó chỉ là hành động man rợ của bọn thảo khấu, bọn quan tham Bắc triều ta, không can cớ chi đến triều đình ta. Cứ thế, cứ thế, chiếm được đảo rồi thì ta cho hàng trăm thuyền ra, hút hết thứ nước ấy, mang về nước. Thế là ta vừa cướp được mà tình hữu hảo bang giao giữa ta và nước Việt vẫn thuận hoà. Hảo a?

Hứa Văn và quan đại thần vái lạy kính phục bệ hạ.

Bệ hạ nói với Hứa Văn:

-Ta sẽ cho quân cơ lên kế hoạch, cùng khanh lập mưu, lập kế, cần thuyền ta cho thuyền, cần vũ khí ta cho vũ khí, cần người ta cho người, lại còn phải chú ý sửa sang thuyền bè, mỗi cái thuyền phải làm kín lại, như cái lu cái hủ, đựng được nhiều nước lửa nhất.

Hứa Văn khoanh tay cúi đầu:

-Bẩm bệ ha, thần lĩnh chỉ.

Bệ hạ lại nói:

-Chọn đúng giờ xuất quân, ta cho sứ thần sang mời Hoàng đế nước Việt tới bang giao với ta, cùng tay bắt mặt mừng, cả nước hãy đón Hoàng đế nước Việt như đón con trời vậy. Trong này thì đón rước Hoàng đế nước Việt, ngoài biển thì Hứa Văn dong thuyền ra cướp nước lửa. Kế sách ta vậy, hảo a?

Tất cả cúi rạp:

-Hoàng thượng anh minh.

Đêm ấy, Lý Bật dẫn Lý Đạt và mấy thủy binh nữa vượt mấy đồi cát, tới trung tâm đảo. Lý Bật đào cái hố lên, lấy trong hố ra một bao cát đẫm thứ nước hôi hám. Lý Đạt ngửi mùi hôi hám ấy, hỏi:

-Là cái gì?

Lý Bật nói:

-Không biết. Nhưng gặp lửa thì cháy.

-Có ai biết chưa?

-Tiểu Tiểu đã viết thư mật báo với Hoàng đế Bắc triều chuyện này.

-Ngài nghĩ sao về chuyện này?

-Ta nghĩ, hoàng đế Bắc triều chắc không bỏ qua. Thiên hạ chưa ai có. Thứ này có thể dùng nhiều việc, thắp sáng, nấu nướng, rèn giũa, nhiều việc. Nếu bán cho thiên hạ, chắc cả núi tiền. Ta biết Bắc triều sẽ mang thuyền ra hút thứ nước này về.

Lý Đạt nhìn thấu mắt Lý Bật:

-Nếu không có Thánh chỉ về tội của ngài, chắc ngài cũng không nói?

Lý Bật im lặng.

-Chắc ngài cũng muốn chiếm giữ thứ nước quý giá này nhưng lực bất tòng tâm?

Lý Bật im lặng.

-Chắc ngài biết kiểu gì Bắc triều cũng giết ngài để giữ cơ mật nên ngài mới thú nhận với Đội Nhất.

Lý Bật im lặng.

-Nhưng thế là đáng ghi nhận, ngài nói ra thông tin cơ mật này cũng là lấy công chuộc tội.

Lý Bật lắp bắp:

-Ngài phải cho ta theo cùng bây giờ, đã nói ra, đã đưa ngài vật chứng về loại nước quý giá này, ắt mạng ta nguy hiểm, Tiểu Tiểu sẽ giết ta.

-Ngài sợ?

-Đúng thế. Tiểu Tiểu võ nghệ cao cường, ta không chống lại được.

Lý Đạt nói:

-Thế hả? Nếu vậy ta cho những thủy binh của ta ở lại. Ta phải lên thuyền gấp. Rồi ta sẽ quay lại. Được chứ?

Lý Bật gật đầu.

Thuyền của Đội Nhất vội vàng trở về đảo Vú Mẹ.

Đội Nhất thử đốt nhúm cát thấm ướt bởi loại nước hôi hám, lửa cháy phừng phừng.

Đội Nhất nói:

-Ta từng nghe đâu đó có thứ này… Đây là loại nước rất quý giá… Nó nằm sâu trong lòng đất, không phải nước nào cũng có. Lý Bật nói đúng, nếu ai có thứ này là làm chủ thiên hạ. Đây là tin vui gửi cho Bệ hạ ta.

Lý Đạt băn khoăn:

-Hoàng đế Bắc triều chắc cũng đã tổ chức thuyền bè ra lấy loại nước quý này, ta phải làm sao?

Đội Nhất hỏi:

-Đệ nói vậy là nghĩa gì?

-Họ là nước lớn. Phát hiện thứ của cải quý giá này ắt sẽ cho thuyền, cho thủy binh ra đánh chiếm đảo mà cướp lấy mang về. Ta phải làm sao? Nếu cứ đợi Thánh chỉ của Bệ hạ e chậm.

Đội Nhất gật đầu:

-Nhiều lần Bắc triều đã đánh chiếm nước Việt ta mà bại. Nhưng đó là trên đất liền. Nay ở ngoài đảo xa xôi, thứ nước phát hiện lại vô cùng quý giá, quân ta mỏng, địa bàn rộng, nếu Bắc triều mang nhiều thuyền bè, quân lính, vũ khí ra vây ép, e ta khó lòng chống đỡ. Phải tính trước. Mất đảo này là sẽ mất đảo khác nữa. Phải tính trước.

Đêm ấy Đội Nhất thao thức không ngủ.

Lý Thắm hỏi:

-Có chuyện chi làm chàng lo lắng như vậy?

Đội Nhất dậy, cầm tay Lý Thắm bước ra khỏi lều.

Trăng rất sáng. Trời trong vắt. Mặt trăng chênh chếch hướng tây, tròn vành vạnh. Ánh trăng mênh mang trên cát đảo.

Xa xa, những mỏm cát nhấp nhô, những mỏm cát tròn trịa, đỉnh cát tròn vút lên mờ ảo trong ánh trăng, trong làn sương muối mỏng tang bay là là trên mặt đảo.

Đội Nhất chỉ tay hỏi Lý Thắm:

-Nàng thấy mấy quả đồi cát kia giống gì không?

Lý Thắm lắc đầu.

Đội Nhất nói:

-Nàng nhìn cho kỹ… Những đồi cát kia kìa, đang vun cao, đỉnh cát cũng vun cao, tròn xoe vậy… như…

-Như Vú Mẹ…

-Đúng rồi..

-Vì thế mà chàng đặt tên là đảo Vú Mẹ?

-Đúng rồi… Vú mẹ ta cho sữa nuôi ta… Vú nàng rồi sẽ cho sữa nuôi con ta… Nhưng Vú của đảo nuôi đất nước…

Lý Thắm ngạc nhiên:

-Chàng đang nói gì?

Đội Nhất kể với Lý Thắm chuyện có thứ nước lạ, quý giá, thứ nước lửa nằm sâu trong lòng đảo.

-Lấy được thứ nước này, bán được thứ nước này thì sẽ thu được rất nhiều tiền, làm giàu cho nước Việt. Ai cũng cần lửa. Quốc gia nào cũng cần lửa. Lửa này không chỉ để đun nấu, để thắp sáng, còn làm được nhiều việc lắm, rất nhiều việc đại sự… Giờ ta nhận ra, nước lửa là sữa của đảo.

Nhưng rồi Đội Nhất lại thở dài. Chàng nói đang có nguy cơ quân Bắc triều sẽ cướp đảo để cướp nước lửa. Chàng nói tới sẽ có chiến tranh. Chàng đang lo lắng thắng bại của cuộc chiến này. Và cả nỗi lo đứa con sắp sinh của Lý Thắm.

Đội Nhất cầm tay Lý Thắm:

-Ngày mai ta cho một thuyền về Kinh thành cấp báo với Hoàng thượng. Nàng có thể theo thuyền vào đấy sinh con…

Lý Thắm:

-Không được chàng… Em sinh con ở đây, bên chàng…

Đội Nhất ôm vai Lý Thắm:

-Nhưng sắp có binh đao, chiến trận, nàng hiểu chứ?

Lý Thắm cương quyết:

-Nếu binh đao chiến trận thì em cũng sẽ sinh con trong binh đao chiến trận.

Đội Nhất nhìn vào mắt Lý Thắm, chàng hiểu, không thể nói gì hơn nữa.

Trong căn lều, Đội Nhất, Lý Thắm, Lý Đạt và cả Huệ Hương nữa cùng họp lại. Lần đầu tiên họ ngồi dưới ánh sáng cháy phừng phừng từ bao cát đẫm nước lửa được mang về.

Đội Nhất dùng cái que, vạch lên cát:

-Đảo này ta sẽ đặt tên là đảo Nước Lửa. Nó ở đây, cách đảo Ốc của Lý Đạt chỉ mấy dặm. Muốn chiếm đảo Nước Lửa, ắt quân Bắc triều phải chiếm đảo Ốc trước. Anh em đông đảo, nhưng ta chỉ có các ngươi là tin cẩn. Đây lại là việc cơ mật, không được ai tiết lộ. Lý Thắm đang bụng mang dạ chữa, ta cử Huệ Hương thay Lý Thắm cai quản nữ giới, lo cơm nước, lo chăm sóc thủy binh ở đảo Ốc nếu xảy ra binh đao. Lý Thắm ở lại, giữ liên lạc với ta để cấp báo vào cho bệ hạ. Ta và Lý Đạt mau mau mang thủy binh, dân binh, dồn hết về đảo Ốc, đảo Nước Lửa. Nếu quân Bắc triều cướp đảo, phải đánh ngay từ đầu.

Lý Thắm lo lắng:

-Đảo rộng thế, thủy binh ta chỉ chưa tới trăm người, vũ khí cung tên chẳng đáng là bao. Quân Bắc triều chắc chắn lớn mạnh, thế mạnh, lực mạnh, lại tham lam chiếm đảo, liệu đụng binh đao, ta có đủ sức không?

Huệ Hương nói:

-Em không biết gì về chuyện binh đao, chỉ biết ra đây, làm gì cũng làm, chết thì chết ở đây thôi, không bỏ đảo.

Lý Đạt nắm tay Huệ Hương:

-Nàng nói khiến ta rất vui.

Đội Nhất nói:

-Nước Việt ta luôn bị Bắc triều gây hấn, nhưng lần nào Bắc triều cũng thua. Bắc triều thua không phải Bắc triều yếu ta mạnh. Ta thắng vì ta đánh bằng thuật mẹo của cha ông ngàn đời truyền lại. Trận này không thể dùng binh đao chọi với binh đao, làm thế ta ắt thua. Không thể lấy lực lượng thủy binh chọi nhau với thủy binh nước họ. Làm vậy ta ắt cũng thua.

Lý Đạt hỏi:

-Đại ca đã nghĩ ra kế?

Đội Nhất gật đầu.

Lý Thắm nôn nóng:

-Chàng và anh em ở đảo, sức mạnh chưa có, lại giữa biển cả, đường tiến, đường lui đều thế cùng, chàng phải rất cẩn thận.

Đội Nhất nhìn ngọn lửa đang cháy phừng phừng:

-Kế ta ở đây. Trong ngọn lửa này.

Mọi người nhìn nhau vẫn không hiểu.

Đội Nhất đứng dậy:

-Sai thủy binh loan tin các đảo, tụ quân về đảo Ốc. Mỗi đảo chỉ giữ lại một ít người canh chừng, còn lại cả thuyền bè, lương thảo, vũ khí, lực lượng dồn binh về đảo Ốc, đảo Nước Lửa.

Lý Đạt và Huệ Hương chạy nhanh.

Đội Nhất nhìn Lý Thắm:

-Ta đi, nàng ở lại phải giữ mình. Nếu có chuyện gì không được liều mạng. Việc của nàng là giữ đứa con trong bụng, việc của ta là giữ đảo, hai việc đều quan trọng như nhau. Nàng hiểu ý ta chứ.

Lý Thắm nói:

-Chàng cứ đi. Em biết mình phải làm gì để giúp chàng.

Đội Nhất ôm Lý Thắm rồi bước nhanh ra khỏi lều.

Những âm thanh vỏ ốc rú lên từng hồi dồn dập.

Những bóng người chạy dưới ánh trăng.

Tiếng kêu của vỏ ốc vang động, réo rắt, dồn đuổi từ người này sang người người khác, nối từ đảo này sang đảo khác.

Biển lặng. Sóng lặng. Trăng sáng.

Nhưng không gian thì đang căng ra trong tiếng vỏ ốc dồn dập, tiếng va chạm binh khí, tiếng mái chèo quạt nước…

Lý Bật hằm hằm nhìn Tiểu Tiểu:

-Nàng nói nữa đi..

Tiểu Tiểu hất mắt lên:

-Ta cũng như ngươi thôi, ham hố cả. Ngươi hợp tác với quan quân của ngươi cũng vì ham hố thôi. Ta nhìn vào đôi mắt ti hí của ngươi ta biết.

Lý Bật cười cười:

-Biết thì đừng lấy gì làm khó chịu với ta. Nàng chỉ cần cầu xin ta tha mạng, là ta tha mạng.

Tiểu Tiểu nói:

-Ngươi chỉ là kẻ tội đồ nước Việt, mạng của ngươi còn chưa lo được lại dám tha mạng ai?

Lý Bật khẽ cười:

-Nàng nói đúng lắm. Ta chỉ là tên tội đồ, mang án tử. Ta báo cho quan quân nước Việt đến đây là để bảo vệ ta và nàng. Vì nếu Bắc triều mang quân tới, nàng có bảo đảm rằng nàng sẽ sống?

-Ngươi nói vậy là có ý gì?

-Nàng quá ngu ngốc và khờ dại. Nàng nghĩ là Bệ hạ của nàng sẽ cho nàng sống, cho nàng giàu có sao? Quân Bắc triều ra đây chỉ hành động như thảo khấu, lấy cướp làm đầu, đã cướp thì phải mật, đã mật thì phải giết người diệt khẩu, truyền đời chuyện này xảy ra như thế, nàng không hiểu sao?

Tiểu Tiểu tái mét mặt mày, ôm lấy chân Lý Bật:

-Ngươi nói phải lắm. Ta là dân Bắc triều, chuyện giết người diệt khẩu như trở bàn tay. Nhưng ta vẫn tin là Khắc Ngôn của ta sẽ giữ thư mật của ta đưa tận tay Hoàng đế, không để vào tay Hứa Văn.

Lý Bật cả cười:

-Khắc Ngôn là tay chân của ai? Của Bệ hạ hay của Hứa Văn, nàng phải hiểu hơn ta chuyện này chứ?

Tiểu Tiểu ngồi chết lặng.

Lý Bật thì thầm:

-Vì thế, nếu quan quân nước Việt làm gì trên đảo này, nàng cứ hợp tác, ngoan ngoãn. Ta cũng ngoan ngoãn. Còn sau đó thế nào thì ta sẽ trù liệu. Nàng hiểu không?

Tiểu Tiểu gật gật đầu.

Lý Bật búng ngón tay:

-Nàng nghĩ ta lập công chuộc tội với nước Việt dễ vậy ư? Nàng nghĩ ta dễ dàng từ bỏ ham hố như nàng nói dễ thế ư? Nàng nghĩ rằng, ta dễ dàng quay đầu vào bờ nhanh thế ư? Không… Thế nên ta mới phải cần đến nàng. Nếu không cần đến nàng, ta sẽ cho mấy thủy binh kia giết nàng. Nàng hiểu ý ta chứ?

Tiểu Tiểu gật gật đầu.

-Nàng là nhân chứng của ta. Nàng hãy nhìn, hãy nghe, hãy thấy rõ những gì ta làm, để rồi chính nàng phải báo với Bệ hạ Bắc triều ta là ai. Nàng nhớ chứ?

Tiểu Tiểu gật đầu.

-Ta sẽ là Chúa đảo ở đây. Chúa đảo của Bắc triều hay của nước Việt, ta chưa nghĩ tới, nhưng ta phải là Chúa đảo ở đây. Nước Việt ta có câu này: Thà làm đầu gà còn hơn đít lợn. Nàng hiểu chứ?

Tiểu Tiểu gật gật.

-Rồi ở đây sẽ có binh đao, kẻ cướp đảo đánh nhau với kẻ giữ đảo. Nàng và ta phải đứng ở giữa. Ai thắng ta theo. Nàng hiểu ý ta chứ?

Tiểu Tiểu gật gật.

-Nếu theo Bắc triều, nàng phải xưng tụng ta. Nếu theo nước Việt, nàng cũng phải xưng tụng ta. Gió chiều nào mạnh ta theo, phía nào tạnh ráo ta theo, ở đâu có bóng mát ta theo, chỗ nào nước trong ta theo. Nàng hiểu ý ta chứ?

Tiểu Tiểu gật gật đầu.

Lý Đạt đã bố trí lực lượng xong ở đảo Ốc. Chàng tuyển chọn những thủy binh có kinh nghiệm, sử dụng tre nứa mang từ trong đất liền ra ghép lại thành nhiều bè nhỏ, mỗi bè hai người, có thể chèo nhanh sang đảo Nước Lửa khi có lệnh. Từ đảo Ốc sang đảo Nước Lửa rất gần, nhìn bằng mắt cũng có thể thấy người đi lại.

Ở đảo Nước Lửa, Đội Nhất cũng đang cho các thủy binh triển khai các hướng đánh khi có quân Bắc triều tiến vào.

Đội Nhất cho người đào sâu hơn cái giếng nước. Càng đào sâu, mùi khí hôi hám càng nồng nặc. Nhưng càng đào sâu lại không còn thấy cái thứ nước màu đen ấy nữa. Đội Nhất không nói cho ai biết việc này. Chàng nghĩ, cũng có thể là thứ nước màu đen ấy ở rất sâu, ngay trong ruột đảo. Nhưng sâu là tới đâu thì Đội Nhất cũng không biết. Nhưng rõ ràng không thể dễ dàng để có thể hút cái thứ nước ấy lên. Cảm giác như không khí nơi chỗ ngồi của mình có mùi khác lạ hơn chỗ khác, Đội Nhất quẹt lửa. Lửa bén vào không khí bùng lên ánh lửa xanh lét. Thế là hiểu, ở đây, nếu đào xuống, chất khí trong lòng đảo có thể bén lửa mà cháy. Khí này khi chưa bốc lên được thì nằm trong cát, nước nhiễm khí thì thành loại nước có thể cháy được. Mơ mơ màng màng những khám phá, Đội Nhất đi sang vị trí khác. Lại đào cái hố sâu trong cát, lại châm lửa vào không khí ở miệng hố, lại thấy có lửa. Khắp nơi trên đảo đều có khí bốc lên từ những hố cát và bén lửa. Đội Nhất ngồi lặng đi, vừa ngỡ ngàng trước phát hiện của mình, vừa bối rối không biết trong lòng đảo chứa cái gì mà khí của nó thoát lên lại có thể bén lửa. Rồi trong sự mơ màng ấy, Đội Nhất ngờ ngợ nghĩ ra một phương cách ngăn chặn quân giặc. Chàng mừng lắm.

Lý Thắm nhận tin từ thủy binh ở đảo Nước Lửa mang về, yêu cầu nàng và mọi người trên đảo cùng các đảo khác nhanh chóng gom thật nhiều vỏ ốc lớn, gom thật nhiều rồi nhanh chóng mang sang đảo Nước Lửa.

Lý Đạt cũng nhận lệnh từ Đội Nhất, nhanh chóng cho thủy binh sang đảo Nước Lửa để đào hàng trăm, hàng ngàn hố cát ven chân đảo.

Tiểu Tiểu ngơ ngác nhìn Đội Nhất hành động mà không hiểu có chuyện gì.

Lý Bật thì ngồi một chỗ, im lặng không hé răng.

Gần sẩm tối, Đội Nhất cho gọi Tiểu Tiểu đến:

-Ta muốn hỏi ngươi lần nữa, ngươi tin là Hoàng thượng của ngươi sẽ cho thuyền ra cướp đảo? Hút nước lửa mang về?

Tiểu Tiểu gật đầu.

-Nếu mang được thứ nước này về, quan quân của ngươi mừng chứ?

Tiểu Tiểu gật đầu.

-Khi quan quân nước ngươi tới đảo, ngươi phải làm như không có ta ở đây, ra ngênh tiếp đàng hoàng, nhớ chưa?

-Dạ nhớ.

-Nếu ngươi có hành động gì làm quan quân của nước ngươi khả nghi, ta giết.

-Dạ nhớ.

Đội Nhất cho Tiểu Tiểu lui.

Chàng nhìn về đất liền.

Chàng mong Bệ hạ đã nhận được tin của chàng.

Con thuyền rời đảo về Kinh thành đã mấy ngày, hướng gió này, biển lại êm, chắc thuyền đã vào tới nơi.

Hoàng thượng Đại việt khẩn trương gọi các quan đại thần đến điện. Bệ hạ nói:

-Ta vừa nhận được chiếu chỉ của Hoàng đế Bắc triều mời ta sang thăm và mong mỏi muốn được nghênh đón ta. Các khanh nghĩ sao?

-Bẩm Bệ hạ. Bang giao hai nước là tốt, Bệ hạ nên thu xếp lên đường.

-Bẩm Bệ hạ, từ ngày Bệ hạ lên Vương, lần đầu tiên Bắc triều thân chinh cử Sứ thần sang tận kinh thành mời Bệ hạ. Chuyện này ngược với thông sử lâu nay. E có chuyện chẳng lành.

-Bẩm Bệ hạ. Xét về mọi mặt, đáng ra ta phải mời Hoàng đế Bắc triều trước. Lại xét về hiện tại, nước Việt ta dù nhỏ, nhưng nhiều lần, Bắc triều đánh ta, muốn xâm lược ta nhưng bại. Các triều Vua Bắc triều đều thua. Vậy nên, hoàng đế mới nghĩ tới việc bang giao lớn hơn là mưu kế. Xin Bệ hạ cứ tự tin lên đường.

Bệ hạ ôn tồn:

-Bang giao là cần. Nước Việt ta nhỏ, xây dựng bang giao với các nước lân bang, các nước lớn cũng là cần. Lấy hữu hảo làm trọng. Nước nhà bình yên, trăm họ yên ổn, sức dân được nuôi dưỡng, thế nước càng vững bền. Ta cũng muốn cho các nước lân bang hiểu rằng, ai gây sự với ta, ta quyết không tha, một gang tấc đất đai của tổ tiên quyết không để ai lấy mất. Ai hòa hiếu với ta để rộng đường buôn bán, giao lưu hàng hóa, ta mở rộng cửa đón chào. Nay nhân có sứ quân Bắc triều mang sắc dụ hoàng đế Bắc triều mời ta qua thì ta phải qua. Không gì phải băn khoăn, nghĩ xiêu vẹo. Cứ lấy lòng thẳng ra ứng xử, cứ lấy tình hòa hiếu ra ứng xử, càng gây dựng được thanh bình, xóa bỏ binh đao, thiên hạ càng được nhờ, đất nước cứ thế thêm vững mạnh.

Các quan đại thần gật gù đồng tình.

Bệ hạ lại nói:

-Nhân có sứ thần sang ta. Ta muốn cho sứ thần Bắc triều biết nước Việt ta mạnh hay yếu, hay hay dở. Nay ta ra thánh chỉ, tổ chức cho thiên hạ đua thuyền, đua quân, đua bắn cung tên, làm cho kinh thành phải như hội, người người nô nức tới xem, thấy cái mạnh của thủy binh, của quân binh, thấy cái giỏi của ba quân, thấy cái uy của đàn voi trận, không nhiều thì ít cũng làm cho sứ thần thấy thế mà biết, mà sợ, mà về tâu với hoàng thượng Bắc triều để biết nước Việt thế đang lên, lòng dân trăm họ một lòng bảo vệ non sông gấm vóc. Các khanh hiểu ý ta?

Các quan đại thần dạ râm ran rồi rút đi, lo về thực thi thánh chỉ.

Còn lại quan Nội cung.

Bệ hạ hỏi:

-Đã có tin từ Đội Nhất? Nói ta nghe.

Quan Nội cung thì thầm:

-Bẩm Bệ hạ. Tin cơ mật. Bắc triều đang có ý đưa quân chiếm đảo.

-Vậy sao?

-Tại đảo Nước Lửa, có một thứ nước bén lửa rất mầu nhiệm, nếu có nó, lấy bán cho các nước lân bang, e không mấy lúc ngân khố của nước nhà tăng vọt trông thấy.

-Đó là loại gì vậy?

-Đội Nhất nói, thực sự là chưa biết loại gì, nhưng nước ấy thấm vào cát, đốt cát cũng ra lửa, thấm vào vải vóc cũng đốt cháy, rất lợi hại.

Quan Nội cung cho người lấy mẫu Đội Nhất gửi mang vào, đốt thử, lửa cháy lớn.

Bệ hạ cầm nhúm cát lên, săm soi:

-Ta nghĩ… Thứ này quý. Nhưng không dễ lấy. Nếu có, nó nằm rất sâu. Nhưng biết cách vẫn lấy được. Thế hóa ra vì thế này mà Bắc triều sinh lòng tham, muốn ra cướp đảo của ta.

-Bẩm Bệ hạ, đúng vậy.

-Nhưng như thế sao lại muốn nghênh đón ta ở kinh thành?

Quan Nội cung nhìn Bệ hạ:

-Bẩm… Cái đó thần chưa nghĩ ra..

Bệ hạ đi lại, nói như tự nói với mình:

-Một mặt mời ta sang và hứa nghệnh đón, một mặt lại âm thầm chuẩn bị cho thủy binh chiếm đảo của ta. Ở cạnh một nhà hàng xóm to lớn mà bụng dạ thất thường, kể cũng khó cho ta thật. Ta không lo cho chuyến đi của ta mà lo cho Đội Nhất và anh em ngoài đó. Binh lực còn yếu, người chỉ có gần hai trăm, liệu có chống chọi được với Bắc triều?

-Bẩm Bệ hạ. Đội Nhất nói, mong Bệ hạ yên lòng, lấy ít đánh nhiều, dùng mẹo mà đánh, dùng trí mà hạ, đó là người nước Việt.

-Ta qua, việc đầu tiên là cố ngăn binh đao. Nước ta còn nhỏ, sức dân chưa mạnh, càng tránh binh đao càng lợi. Chỉ khi nào không ngăn được thì sống chết một phen, cương giới phải giữ. Dù chỉ là đảo hoang cát trắng cũng là đất của tổ tiên, phải giữ, huống hồ còn chất chứa những của cải quý giá… phải giữ… Khanh cho cấp báo, sung quân, sung thuyền, chuẩn bị tiếp viện cho Đội Nhất.

-Bẩm Bệ hạ, tuân chỉ.

Tuân theo Thánh chỉ, các quan đại thần đôn đốc các địa phương, tổ chức dân chúng về kinh thành. Lại  sai bộ binh, bộ thủy mang voi ngựa, mang thuyền bè giăng kín trên sông. Chỉ mấy ngày mà kinh thành nườm nượp người, rồi từng đàn voi trận dàn từng hàng, ngựa xe tấp nập, quân binh, thủy binh đằng đằng sát khí. Trên sông, thủy quân dàn trận, chiến thuyền san sát, quân sỹ reo hò chèo thuyền, khua chiêng, đánh trống vang trời. Thấp thoáng trong sườn núi, bộ binh gươm giáo, cung tên cùng cờ xí rực rỡ đi lại tấp nập, khí giới rợp trời. Còn trên cánh đồng mêng mông, hàng vạn con trâu bò chạy từng đàn, bụi bay mù mịt, lũ con nít cũng vung gậy vung roi, hò reo không ngớt.

Dân chúng bốn phía kinh thành náo nức.

Viên sứ thần Bắc triều đứng nhìn mà thấy hoa mắt chóng mặt, không ngờ nước Việt lại mạnh như thế, dũng như thế. Lại nhớ về lịch sử, sứ thần hiểu, vì sao Bắc triều bao lần đánh chiếm nước Việt đều bất thành. Sức dân mạnh mà kết, lòng người dũng mà quyện, trăm người theo một lệnh, vạn người theo một lệnh, khí thế hừng hừng, như một đội quân không ai địch nổi.

Rồi sứ thần lại được mời xem trò đâm cá. Dòng sông nước đục, mắt nhìn chẳng thấy đáy. Các thủy binh ào ào băng xuống, dùng giáo mà đâm, đâm nhát nào dính cá nhát đó, dân chúng hò reo không ngớt.

Lại  mời sứ thần xem những người lính Việt tay không đánh nhau với hổ trong sân nhà vua. Hổ dữ gầm thét lồng lộn để vồ lấy người, nhưng đã bị những người lính dũng khí lao tới, quần nhau với hổ dữ khiến cho hổ dữ cũng phải quay cuồng lăn lóc mà chết.

Lại mời sứ thần xem trò trăn với người. Con trăn to như cột đình, quấn chặt lấy người lính nhỏ bé. Tưởng người lính không xương tan thì cũng gãy người. Nào hay, người lính kiên cường, giằng được ra, túm lấy đầu trăn dí xuống nền gạch cho nát ra, máu tươi lênh láng. Trong tiếng reo hò, hoàng thượng nước Việt hỏi sứ thần, có muốn ăn thịt trăn thì cho hậu cung làm nhiều món thết đãi? Sứ thần vừa xem trò, quá kinh sợ, vội vàng chối từ.

Sứ thần bất an, vội vàng cáo từ về nước, lòng thầm nghĩ, đánh với người Việt là khó, thôn tính người Việt là khó, biết thế mà sao Bắc triều luôn nôn nóng xâm chiếm nước này?

Hứa Văn chống nạnh nhìn đoàn thuyền chiến, trong lòng lấy làm hả hê.

Bệ hạ hỏi:

-Hoàng thượng nước Việt đang sang gặp ta. Đúng ngày ta tiếp đón, nhà ngươi bắt đầu phát lệnh xuất bến được chứ?

Hứa Văn vui mừng:

-Bẩm Bệ hạ, thuyền chiến đã sẵn sàng. Thủy binh đã sẵn sàng. Các thuyền đều được che kín, đựng nước không thấm, với đoàn thuyền này, thần nghĩ, ta có thể hút hết thứ nước lửa quý giá của nước Việt mà bán ra khắp thiên hạ, ngân khố Bệ hạ không mấy chốc mà lớn mạnh.

Bệ hạ cả cười:

-Ta không nghĩ như khanh. Lấy được thứ nước ấy cũng tốt, nhưng tốt hơn là lấy được đảo. Ta lấy được đảo, đảo ấy là trạm canh, là chốt gác, lấy được đảo thì lấy được nước Việt, cái đó lâu dài.

-Bẩm Bệ hạ, thần hiểu.

-Đáng ra ta chưa cho xuất binh cướp đảo, nhưng vì đã phát hiện thấy thứ nước quý ấy, không xuất binh ngay e nước Việt lấy trước.

-Bẩm Bệ hạ, đúng vậy.

-Nhưng khanh phải làm như ta nói, coi như đoàn thuyền này chỉ là đoàn thuyền của thảo khấu thôi… Nước Bắc triều rộng lớn như ta, ai lại làm trò cướp bóc vậy.

-Bẩm Bệ hạ… đúng thế…

Bệ hạ Bắc triều và Hứa Văn nhìn nhau rồi cùng ha hả cười.

Hứa Văn hạ giọng:

-Bẩm Bệ hạ, có chuyện này, không biết có nên nói ra?

-Khanh cứ nói.

-Dạ. Thần muốn nhắc đến Tiểu Tiểu. Tiểu Tiểu là cháu ruột của Bệ hạ…

-Thì sao?

-Việc cướp đảo nước Việt là cơ mật. Tiểu Tiểu có công nhưng nàng cũng đã biết mọi chuyện cơ mật này…

-Thì sao?

-Bẩm… Cái gì biết thì sẽ lộ…

-Thì sao?

-Thần e phải làm một việc khi quân..

Bệ hạ nhìn Hứa Văn. Hứa Văn khiếp vía lùi lại, chân tay run rẩy. Tiếng Bệ hạ nhỏ nhẹ:

-Nếu giữ nó mà yên, giữ. Nếu có nó mà không yên, giết.

Hứa Văn thở phào:

-Bẩm Bệ hạ, thần lĩnh chỉ.

Hoàng đế nước Việt mang theo chín con thuyền chiến để hộ giá thuyền rồng sang Bắc triều. Đoàn thuyền rẽ nước mà tiến, thuận gió, thuận sóng, chẳng mấy ngày mà tới. Lần đi này, các quan đại thần chỉ thấy khác lạ, Bệ hạ lại cho vời quan chép sử theo cùng. Quan chép sử tên là Lý Vân, vốn tính cương trực, ngay thẳng, kiến thức thuộc loại đệ nhất thiên hạ. Vốn ngày ngày, mỗi khi rảnh rỗi, Bệ hạ vẫn thường đàm đạo với Lý Vân, có điều gì cần ghi lại cho hậu thế, Lý Vân cứ lựa chọn mà chép. Sử chép của Lý Vân lấy cái chính trực làm chủ, minh bạch, không vẽ vời, không hoa mỹ cũng không bóp méo. Nhưng chính sử đôi khi cũng không thể chép ra hết chính sử. Nên mới có chuyện, nhân chuyến đi cùng Bệ hạ, lênh đênh trên biển, chuyện to chuyện nhỏ nói mãi cũng hết, chuyện thế sự, quốc gia bàn mãi cũng cạn, nhân khi chỉ ngồi riêng với Bệ hạ. Lý Vân thưa:

-Bẩm Bệ hạ, có chuyện này thần muốn tâu với Người, không biết nên chăng?

Hoàng thượng cả cười:

-Khanh với ta xa lạ gì nữa, tính khí của khanh ta cũng đã tường, có điều gì cứ nói hết ra, không e ngại.

Lý Vân vẫn dè chừng:

-Nhưng chuyện này, thần e Bệ hạ khi nghe xong, nhẹ thì nổi giận, nặng thì chém đầu thần nếu thần cố nói.

Hoàng thượng cười lớn:

-Lý Vân ơi là Lý Vân. Ta với các khanh coi nhau như máu mủ ruột rà, chuyện lớn chuyện bé đêm ngày đều tâm đầu ý hợp. Chung ý thì cùng gật gù thân ái, khác ý thì cùng tranh cãi đến cùng, trên dưới phân minh, rành rẽ, nào ta có ngăn cản các khanh điều gì đâu, ta cũng đã phạt ai nói năng chính trực, ngay thẳng chưa nào?

Lý Vân nói:

-Bẩm Bệ hạ, chuyện này nói trải lòng phân vân của thần cũng được mà như tấu trình với Bệ hạ cũng được. Là người được Bệ hạ giao phó việc chép sử cho muôn đời, thần không thể không nói.

Hoàng thượng ra chiều sốt ruột, phẩy tay:

-Ta cho phép khanh nói hết, đừng dấu trong lòng điều gì.

Lý Vân ngẫm nghĩ chốc lát rồi cất tiếng:

-Bẩm Bệ hạ. Theo sử của thần đã chép, Bệ hạ lên ngôi là vì Hoàng đế Lê Long Đĩnh chuyên quyền, bấn nát vì gái, vì rượu, vì đua đòi ăn chơi sa đọa, bỏ bê việc nước, ham hố nhục dục, khiến lòng dân trăm họ ca thán phẫn nộ. Lại trước đó, lời sấm có ở khắp nơi, hiện ra cả trên gốc cây, mặt đá, nước Việt sẽ xuất hiện một vị minh quân họ Lý là Người. Thiên hạ lại nghe khi hoàng đế Lê Long Đĩnh ốm đau kiệt quệ, chính anh em họ nhà Lý đã cho người thuốc độc chết để tiệm chiếm ngôi báu, đưa Bệ hạ lên ngôi Vua như hiện giờ, mọi chuyện đều có sự sắp đặt của Thiền sư Vạn Hạnh cả. Cơ nghiệp các Hoàng đế nối ngôi nhau là lẽ thường nhưng chỉ vì điều này mà đưa ra thiên hạ những cái xấu xa oan uổng cho Hoàng đế Lê Long Đĩnh e không hợp chính sử, làm tổn hại đến người thiên cổ mà đời sau mù mịt chính sử không biết đâu phải, đâu trái. Ý thần là muốn nói vậy, chính sử phải chép thành chính sử.

Hoàng thượng ôm vai Lý Vân:

-Lý Vân ơi Lý Vân. Điều khanh nói, nếu bệ hạ không phải ta mà người khác, lòng dạ hẹp hòi, tim gan ích kỷ, e khanh sẽ đầu lìa khỏi cổ. Khá khen cho khanh thẳng thắn nói hết ruột hết gan cái phân vân của thiên hạ. Những chuyện khanh nói rốt cuộc cũng chỉ là trong thâm cung bí sử. Giờ ta nói có cũng được, không cũng được. Khanh chỉ cần biết, ta nối ngôi nhưng làm cho nước Việt cường thịnh hơn, cũng vẫn tôn kính những bậc tiền bối, không làm gì hổ thẹn, thế là được rồi. Người chép sử cho quốc gia lấy cái cốt cách lớn lao làm căn cơ, không việc chi phải mất công đi vào tiểu tiết. Những tiểu tiết, như đồn, như thổi ấy kệ cho bọn văn nho làm văn, làm thơ, kệ cho thiên hạ nghi ngờ, bia miệng. Ta chỉ nói với khanh thế này thôi, khi hoàng đế Lê Long Đĩnh băng hà, nhất nhất trên dưới tôn ta lên nối nghiệp. Vậy thôi mà. Nếu trên dưới không một lòng, ta có làm bệ hạ được không, một mình Thiền sư Vạn Hạnh có dời non lấp bể được không?

Lý Vân nói:

-Nhưng thiền sư Vạn Hạnh cứ sắp đặt trong thiên hạ lời đồn thổi về những cái xấu xa vu khống cho hoàng đế Lê Long Đĩnh, thần e không thuận, có hại mà không có lợi.

Hoàng thượng gật gù:

-Điều này ta có biết. Ta cũng không đồng tình. Ai cũng có xấu có tốt. Người Việt ta có câu, chín bỏ làm mười, nghĩa tử nghĩa tận, âu thì tha thứ cái không tốt, lưu giữ cái tốt của người đã khuất với hậu thế, há chẳng hơn sao?

Lý Vân nói:

-Bẩm, vậy nên thần mới nói hết với Bệ hạ, chính sử thần vẫn chép, mà những gì không thuộc chính sử nhưng thuộc dân gian cũng cho phép thần chép ra, sau con cháu khỏi cho rằng Bệ hạ cốt chép sử lợi cho mình mà mất đi sự khách quan, chính thực.

Hoàng thượng gật đầu:

-Khanh thấy có lợi cho nước thì cứ làm, đừng để kẻ phản nghịch lợi dụng là được. Nhưng hôm nay khanh nói chuyện này ra mà như không nói chuyện này, là để hàm ý nói với ta điều khác?

Lý Vân giật mình rồi cười:

-Bệ hạ quả anh minh.

Hoàng thượng nhìn vào mắt Lý Vân:

-Khanh hình như không mấy tin ta?

Lý Vân chắp tay:

-Bệ hạ nói thế là khép thần vào tội chết sao. Thần phụng mệnh Bệ hạ, lấy lòng tin làm đầu, không thể không tin mà phụng mệnh được.

Hoàng thượng lại hỏi:

-Nếu vậy, khanh vẫn còn điều chi ray rứt muốn nói ra?

Lý Vân thổ lộ:

-Tất cả là ở chuyến đi này, thưa Bệ hạ.

Hoàng thượng cầm tay Lý Vân:

-Ta đang cần khanh nói về chuyến đi này của ta. Thực lòng, đi thì phải đi mà lòng ta bất an. Đi mà biết trước chuyến đi không hẳn là được Bắc triều nghênh tiếp mà hình như sau sự nghênh tiếp còn là sự dọa dẫm. Nếu ta khí khái, ngang ngạnh, coi trời bằng vung, thách thức, vỗ ngực cũng không được, mà nhún nhường, khép nép, hạ mình theo thứ bậc cũng không được. Các bậc tiên đế nước Việt đều đã phải đánh trả sự xâm lấn của các hoàng đế Bắc triều. Ta phận hậu thế, lại mới lên ngôi, ứng xử làm sao để nước Việt ngửa mặt nhìn thấy trời, nước lớn Bắc triều phải nể phục, lại không hổ thẹn với các nước lân bang, mà trăm họ trong nước thì hoan hỉ, vua tôi một lòng trên dưới.

Lý Vân cảm kích trước những lời châu ngọc phát ra từ ruột gan Bệ hạ:

-Bệ hạ nói ra những điều ấy khiến thần rất ngưỡng vọng. Chỉ có điều, vì sao Bệ hạ biết là Bắc triều đang rục rịch chuẩn bị xâm lược chiếm đảo của ta mà Bệ hạ vẫn sang cho họ nghênh đón? Ai không biết thì hoan hỉ vì chuyến đi bang giao có một không hai, ai hiểu thì nghĩ Bệ hạ nhụt chí chống Bắc triều, sang để cầu hòa, cầu yên, làm hèn đi cái chí giữ nước vốn có truyền thống lâu đời của người Việt ta, làm khác đi cái chí cao, dũng mạnh của các bậc tiền nhân trước đó. Như Hoàng đế Lê Long Đĩnh cũng từng nhiều phen lên ngựa xông pha chiến trận bảo vệ cương giới.

Hoàng thượng cười ha hả:

-Ta hiểu, ta hiểu ý khanh. Khá khen cho khanh thẳng thắn, chân thành, nói với ta những điều tâm huyết như thế là bậc trung thần. Vậy ý khanh thì sao? Ta nên đi hay không đi?

Lý Vân nói:

-Nên đi. Bệ hạ đi là đúng. Biết Bắc triều sắp xâm lược đất đai tổ tiên mà vẫn nhận lời sang nước họ theo lời mời mọc là bệ hạ cao kiến và dũng khí.

-Khanh nói tiếp đi.

-Bẩm bệ hạ. Đi lần này, Bệ hạ nhất mực hoan hỉ, ép Bắc triều phải nói nhiều đến bang giao, đến hòa hiếu, có thế khi xảy ra việc Bắc triều xâm lược, ta càng có thế mạnh để loan báo với các nước lân bang về sự tráo trở, lá mặt lá trái của họ, bao vây cô lập họ về bang giao với các nước, làm họ phải thấy xẩu hổ.

-Khanh nói phải lắm.

-Bệ hạ cũng phải khéo léo để lộ vài tin tức, kiểu như ta đã biết ý định của Bắc triều muốn chiếm đảo, muốn nhòm ngó thèm khát cái thứ nước lửa quý giá ngoài cương giới của ta. Bệ hạ cũng nhắm đích tới Lý Bật, đại thần nước Việt mà bán nước chạy theo Bắc triều, Bắc triều lại dùng Lý Bật để mưu toan đánh lại người Việt, làm vậy để hoàng đế Bắc triều cũng phải giật mình, như ông bà ta có câu: có tật giật mình, sinh ra nghi kỵ trong nội bộ để lộ tin cơ mật, sinh bất an, quyết đoán không mạnh, có khi nhờ vậy mà thu quân, thu binh, thu thuyền, bớt đi một cuộc binh đao với ta. Ta đang yếu, đang cần dưỡng sức dân, bớt một cuộc binh đao là quý.

-Khanh nói phải lắm.

-Nhưng nếu Bắc triều ra ý dọa dẫm, o ép, Bệ hạ phải mạnh lời, mạnh tiếng, không ngại ngần tuyên bố chí khí nước Việt, muốn hòa hiếu với các nước lân bang nhưng cũng không nương tay với ai cố ý xâm lăng cướp đất. Bệ hạ làm được thế, lòng dân hoan hỉ, quan quân phấn chấn, binh sĩ nức lòng mà kẻ chép sử như thần cũng lấy đó viết lại cho hậu thế, đời đời con cháu biết được khí phách của Bệ hạ, dũng khí của Bệ hạ, cái mạnh mẽ muôn đời của người nước Việt.

Hoàng thượng đặt tay lên vai Lý Vân, hiện rõ sự ưng ý.

Lễ nghênh đón của hoàng đế Bắc triều dành cho hoàng đế nước Việt quả là hiếm có. Hoàng cung trang trí lộng lẫy. Cung nữ múa hát rắc hoa suốt dọc lối đi trong đại điện. Quân binh, thủy binh gươm giáo cung tên oai phong đứng chào. Lại có cả súng thần công khai hỏa nghênh tiếp. Lại có cả những thớt voi chiến nghênh tiếp. Lại có cả hàng trăm ngựa chiến phi nước đại bám theo đoàn ngựa xe chở hoàng thượng nước Việt. Ngay cả tiệc thết đãi cũng hiếm gặp. Những mâm thịt hổ còn nguyên thủ cấp, nhìn đã thấy ẩn chứa ý tứ. Đũa ngà bát ngọc. Sơn hào hải vị thôi thì không thiếu thứ gì Bắc triều có mà không mang tới. Hoàng cung lộng lẫy. Âm nhạc rộn ràng. Người phục dịch đi ra đi vào cung kính.

Hoàng thượng Bắc triều cười cười giả lả, nâng ly ngọc ngang mặt, cung kính:

-Hai nước chúng ta, nước to, nước nhỏ, nước giàu, nước nghèo không cần phân định, bang giao lấy chữ tín làm trọng, lấy chữ hòa hiếu làm trọng, lấy chữ kính làm trọng, xin cạn ly này.

Hoàng thượng nước Việt cũng cung kính nâng ly đáp lời:

-Xin đa tạ sự nghệnh tiếp tưởng không thể sang trọng hơn nữa. Xin cạn ly này.

Hoàng thượng Bắc triều cạn hết ly rượu, lại nói:

-Bang giao hai nước, chuyện cũ có gì không hay xin bỏ qua, xin khép lại, nay cả ta và bệ hạ đều vừa nối ngôi, công việc trong nước bộn bề, sức dân đang mỏi, vậy nên lấy sự bang giao hữu hảo hai nước cho mở đường buôn bán, giao thiệp, giàu cùng giàu, vui cùng vui, lấy cái bắt tay, lời chào làm giao tiếp hàng ngày, chuyện binh đao, gây hấn nhau cho lui vào quá khứ. Nay Bệ hạ nước Việt sang thăm, ta và triều đình Bắc triều lấy làm hỉ hả, xin cùng nhau tay trong tay, cùng chung ý chung lời làm theo sáu chữ này: Hữu hảo, tương trợ, hòa hiếu.

Hoàng thượng nước Việt cung kính nói:

-Sáu chữ đó hay lắm, Bắc triều quả thật sâu sắc.

Hoàng thượng Bắc triều:

-Từ nay hai nước cứ lấy sáu chữ mà ta ban ra ấy mà làm theo, nhất nhất tuân thủ.

Hoàng thượng nước Việt:

-Bệ hạ nói hay lắm. Những chữ của Bệ hạ Bắc triều là dành cho trăm họ Bắc triều. Nước Việt ta cảm tạ thịnh ý nhưng xin không mang sáu chữ ấy về nước mình được.

Hoàng thượng Bắc triều đang cười chợt lặng đi vì bất ngờ.

Hoàng thượng nước Việt lại nói:

-Bắc triều của Bệ hạ rộng lớn, người đông, nước mạnh, hẳn còn là tấm gương cho các nước lân bang về hòa hiếu, về bao dung, về đức pháp. Nước Việt ở cạnh, tự hào có Bắc triều mạnh, mạnh mà có đạo, có đức, trăm họ khen ngợi, đó cũng là cái phúc lớn cho hai nước chúng ta.

Hoàng thượng Bắc triều gắng cười:

-Quá khen. Quá khen.

Hoàng thượng nước Việt lại nói:

-Người xưa nói, nước lớn mà đức bé thì dễ gây thù oán lân bang, với Bắc triều ta tin nước lớn mà đức Bệ hạ cũng lớn, vì thế nên dù ở cạnh Bắc triều, nước Việt bé, người Việt ít mà lòng vẫn yên là vậy.

Hoàng thượng Bắc triều gật gù:

-Quá khen. Quá khen.

Hoàng thượng nước Việt nói tiếp:

-Hai nước lân bang không giữ hòa hiếu mà để xảy ra binh đao thì thiên hạ dễ oán trách, sức mạnh sẽ yếu, các nước lân bang hẳn sẽ chê cười. Ta tin Bệ hạ không lấy binh đao thay lời, không lấy chiến tranh thay ý. Cương giới hai nước muôn năm bình yên, giao thương hai nước muôn đời thuận lợi, âu cũng là mơ ước của muôn dân trăm họ.

Hoàng thượng Bắc triều lại gật gù:

-Phải lắm. Phải lắm.

Hoàng thượng nước Việt hạ giọng:

-Trên đường sang Bắc triều thăm thú, ta nghe đâu đó lao xao, rằng hình như trên biển đang rình rập bọn thảo khấu, cương giới ngoài đảo xa của nước Việt có vẻ không được yên ổn, cũng mong Bệ hạ vì quan hệ hai nước mà trợ giúp một tay, dẹp bọn thảo khấu, giữ trời yên biển lặng, đường biển yên thì giao thương hai nước cũng yên. Chỉ sợ tên Lý Bật phản loạn, chạy sang Bắc triều, nghe nói không được Bệ hạ nghênh đón nên phải thoát thân móc nối với lũ thảo khấu làm loạn trên biển, muốn cướp đảo vùng cương giới người Việt, ta cảm thấy muôn phần bất an, mong bệ hạ ra tay đặng giúp nước Việt giữ yên biên cương bờ cõi.

Hoàng thượng Bắc triều khựng lại, nụ cười trở nên méo mó nhưng cũng điềm tĩnh đáp từ:

-Hảo a. Hảo a. Ta hứa, ta hứa.

Nhạc réo rắt.

Ly cụng ly.

Cuộc tiệc mãi tới canh ba mới tàn.

Ruột gan Hoàng thượng Bắc triều như lửa đốt.

Hứa Văn phì phèo cái tẩu thuốc, đứng trên mạn con thuyền dẫn đầu, vẻ mặt hí hửng. Hắn tính, giờ này trong Hoàng cung, chắc hai hoàng thượng đang mải mê chuyện trò, chén thù chén tạc, lại nghe con hát, lại ngắm mỹ nữ. Lúc chia tay, Bệ hạ còn lưu luyến không nguôi. Lại còn hứa ban thưởng. Lại còn hứa giao thêm quyền bính. Hứa Văn đâu cần những thứ đó của Bệ hạ. Hứa Văn cần là cần chuyến đi này, nói công khai cũng được mà nói cơ mật cũng xong. Trong tay có thánh chỉ bệ hạ, thuyền đi không ai xét hỏi, tha hồ muốn làm gì làm. Không như cái thuở chỉ là dân buôn bán, đi đâu lo nơm nớp. Nay nhà buôn mà lại đại thần, đại thần lại chính nhà buôn. Hứa Văn ngửa mặt cười ha hả.

Hứa Văn ranh ma còn dốc hết vốn liếng, thuê cả đoàn thuyền của Nhật Bản theo cùng. Nước lửa lấy được, số cho thuyền vào cống nộp Bệ hạ lấy công, lấy thưởng, phần lớn nữa thì cho xuống thuyền Nhật Bản, cho chạy sang Nhật Bản bán riêng, lấy riêng. Đi một chuyến mà được cả công cả tiền, cả tiếng cả lực, hóa ra đời này e chỉ Hứa Văn làm được. Sau chuyến này, cứ đà ấy, thế ấy, đường ấy, Hứa Văn mang tiếp binh lực ra, ép lấy thêm mấy đảo nước Việt, chẳng mấy chốc mà giàu có. Chỉ có nhúm người Việt ngoài kia, vũ khí binh lực thuộc loại thấp kém, đọ sao được với binh khí vũ lực của Hứa Văn.

Lại nhớ đến Tiểu Tiểu. Nếu Tiểu Tiểu biết Hứa Văn còn lén lút hút nước lửa chuyển sang đội thuyền thuê của Nhật Bản để bán cho Nhật Bản, e Hoàng thượng tru di tam tộc. Nhưng mà giờ thì có gì phải lo. Đã có Bệ hạ ban thánh chỉ, thấy bất lợi thì giết. Giết chứ gì nữa. Không giết để Hứa Văn lộ mặt là đại thần tham lam trộm cướp ư?

Thế là mãn nguyện nhé.

Dù vẫn biết lần đi này, bao nhiêu vốn liếng tích cóp nhiều năm dồn vào đây, nếu mà nhỡ có chuyện gì, thuyền thuê gặp nạn là đền bù đến khuynh gia bại sản, nhưng thời tiết này, gió này, biển này, trời có thù ghét cũng không thể gây bão tố được.

Nắng chói lòa trên biển. Vẫn còn xa lắm mới tới được đảo có nước lửa.

Dù đường xa thế nhưng Hứa Văn đã thấy lấp loáng, óng ánh những đồng tiền vàng.

Và hắn lại theo thói quen, ngửa cổ lên trời, cười ha hả.

Mấy ngày qua, mọi thông tin, công việc, tình cảm, ý chí của  tất cả dân binh, thủy binh đều dồn về đảo Nước Lửa. Không phải ai cũng biết chuyện gì đang xảy ra, nhưng chỉ cần nhìn những công việc đang chuẩn bị ngày một gấp gáp, người ta dần biết rằng, đảo Nước Lửa đang cần được bảo vệ. Đội Nhất và Lý Đạt chỉ huy ở tiền tiêu, ngày quên ăn, đêm quên ngủ. Từ đảo Vú Mẹ, Lý Thắm và Huệ Hương cho người đưa thuyền mang tới đảo Nước Lửa bao nhiêu vỏ ốc lớn mà Đội Nhất vẫn nói chưa đủ. Lý Thắm phải phát lệnh cho các đảo khác nữa, tìm kiếm vỏ ốc dồn về. Đội Nhất lại sai Lý Đạt dồn dân binh, thủy binh về đảo Nước Lửa, ăn tại chỗ, ngủ tại chỗ, đào nhăng nhít trên đảo những đường hào nhỏ và sâu, chạy từ ven chân đảo, chạy xuyên vào trung tâm, những đường hào ấy dồn về ở cái giếng chứa nước lửa. Đào xong những đường hào ấy, Đội Nhất lại cho đan những phên nứa che miệng hào lại, phủ rong rêu, phủ rau muống biển- thứ cây xanh duy nhất ở đây, nhìn không thấy được. Lại cho các cô gái dùng nhiều dây thừng, buộc nối hàng trăm, hàng ngàn cái vỏ ốc lại với nhau, thành từng sợi dây vỏ ốc dài, trong từng vỏ ốc lại cho chất đầy thứ nước lửa ấy trộn lẫn với cát, với vải, xếp đặt gọn gàng trên những con thuyền và phủ lưới cụ lên che kín. Lại sai mang tới nhiều mảnh buồm cũ, vải áo quần cũ, xé thành sợi nhỏ, đan nối nhau thành  bùi nhùi, phơi cho khô, rồi lại thả dài dưới các đường hào. Lại sai đào nhiều hố lớn, kín đáo sau những mô đá, sau những ghềnh san hô, lấy chỗ ẩn nấp của quân binh. Cung tên cũng đã chuẩn bị. Hàng ngàn cây đuốc thấm đẫm loại nước lửa cũng đã chuẩn bị. Gươm giáo cũng đã chuẩn bị.

Đội Nhất lại sai một số dân binh trai tráng ngày đêm khắc chữ lên những thanh gỗ cứng, mỗi thanh khắc hai chữ ĐẠI VIỆT, khắc xong thì đi thuyền tới các đảo chôn sâu xuống đảo, cắm hết mốc giới. Một số dân binh khác thì lo việc đo đạc các đảo, bề ngang, bề dài, bề rộng, hướng nam, hướng bắc, hướng đông, soạn thảo kỹ càng bản đồ, đo đạc tỉ mỉ ở đâu có đá ngầm, ở đâu có san hô, ở đâu là đường đi lối lại an toàn cho thuyền bè, ở đâu là chỗ nước xoáy, đảo nào có loại cây dại gì, có địa hình gì, thủy triều lên xuống hàng ngày thế nào, hướng gió hàng ngày thế nào, thời gian mặt trời lặn mọc thế nào, tất cả cho ghi chép lại, đóng gói để gửi vào cho kinh thành đặng rõ ràng cương giới đảo ngang biển dọc, sung vào kho bản đồ của toàn cõi Việt. Lại sai những người khác theo thuyền đi tới các đảo, tìm kiếm, đào bới những nơi thuyền bè lâu năm bị bão tố đánh chìm, lấy lên những của cải quý giá như vàng ngọc, như vũ khí, như ngư cụ, tập trung dồn hết về đảo Vú Mẹ để đưa về đất liền giao nộp cho triều đình. Khi rảnh việc củng cố chiến sự ở đảo Nước Lửa thì lo củng cố lều bạt, đào nhà hầm, chống chèo chỗ ở, ổn định nơi ăn, nơi ngủ cho từng đảo. Lại xây dựng các kho chứa lương thảo, chứa vũ khí, chứa ngư cụ. Dân binh, thủy binh các đảo đều thanh niên trai tráng, con gái con trai ngày đêm vui vầy, làm đấy, cười đấy, dù có mệt nhọc mà quên mệt nhọc, khí thế bừng bừng, không ai chểnh mảng, không ai lười biếng, không ai thối chí.

Lý Thắm, Huệ Hương nghe lời Đội Nhất, tìm trong đám con trai con gái, ai biết hát thì dạy hát, biết múa thì dạy múa, biết võ thì dạy võ, biết cung tên dạy cung tên, biết bơi lội dạy bơi lội, thành ra trên đảo mọi người đều sảng khoái, vui vẻ, quyện lấy nhau sống, tình cảm thắm thiết, quên nỗi nhớ nhà, quên nơi sóng gió, quên ngày quên đêm, khí thế chưa thấy đâu mạnh mẽ như thế, hừng hực như thế.

Ngày làm, đêm nghỉ. Trai gái ai quen hơi bén tiếng nhau thì tự tìm lấy nhau, tự đưa nhau đi, nói chuyện, làm quen, tay trong tay, nghĩ tới sự tác hợp lâu dài, sinh con đẻ cái.

Những người quen chài lưới thì tranh thủ ra khơi đánh cá, thả lưới gần quanh đảo mà cá nhiều vô kể, ăn không hết thì mang phơi, mang ướp muối, đợi ngày thuyền vào đất liền thì gửi vào.

Đội Nhất yên lòng nhìn thủy binh, dân binh một lòng một dạ cùng chàng giữ đảo, lòng lại thầm cảm tạ Hoàng thượng đã nhìn xa trông rộng, giữ cương giới từ xa, ổn định cuộc sống ngay tại đảo là ổn định lòng mình, không có mốc giới nào vững bền hơn mốc giới trong lòng mình, trong tim mình với đất nước.

Chỉ phiền một nỗi, vừa chân ướt chân ráo kéo quân ra đảo đã lo dàn binh bố trận chống đỡ quân xâm lược. Nhưng thế cũng là dịp thử sức với binh đao.

Nay mọi việc bố phòng, dàn trận kỹ càng, không còn gì phải lo nghĩ nữa.

Chỉ có hai kẻ ở trên đảo mà như ở thế giới khác, không ai hỏi han, không ai sai việc, suốt ngày chỉ biết ngồi bó gối, nhìn trời nhìn đất, đó là Lý Bật và Tiểu Tiểu.

Mỗi ngày qua đi, nhìn cảnh bố phòng của thủy binh, dân binh, nhìn cái cách xây dựng phòng tuyến đón lỏng trên đảo, nhìn cái khí thế một lòng bảo vệ cương giới của dân binh, thủy binh do Đội Nhất chỉ huy, Lý Bật tự thấy hổ thẹn, tự thấy lạc lõng vô cùng. Tiểu Tiểu lại ngơ ngác, rồi cảm thấy thực lòng run sợ trước Đội Nhất. Vừa đấy trên đảo đã thành phòng tuyến, chưa đánh đã thấy thắng lợi, Tiểu Tiểu nghĩ tới cảnh thuyền bè, quân lính của Bắc triều lao vào đảo mà chết trong lửa, đã chợt rùng mình thất sắc.

Hoàng đế Bắc triều nửa đêm cho triệu tập đại quan lo việc quân cơ vào phòng riêng. Đây cũng là việc hiếm gặp, chỉ xảy ra khi đất nước gặp nguy biến. Nhìn sắc mặt của hoàng thượng bất an cũng biết là có việc chi khẩn cấp.

-Bẩm Bệ hạ, giờ này…

-Đúng thế… Ta lo nghĩ không ngủ được. Khanh nói xem, đoàn thuyền của Hứa Văn đã đi được bao xa?

-Bẩm Bệ hạ, tính đường đi, thuận gió, thuận sóng thế này cũng đã được nửa chặng đường tới đảo.

-Nửa chặng đường?- Hoàng thượng nhíu trán- Có cách gì đuổi kịp không?

-Ý Bệ hạ là…

-Khanh phải tìm một chiến thuyền nhỏ, buồm lớn, cử theo một tốp lính có tay chèo giỏi, điều khiển thuyền giỏi, làm sao đuổi kịp đoàn thuyền của Hứa Văn, đưa Thánh chỉ của ta, yêu cầu đoàn thuyền quay về kinh thành, tạm hoãn việc cướp đảo.

Quan đại thần giật mình:

-Bệ hạ… Sao lại thay đổi như vậy?

Hoàng thượng đăm chiêu:

-Tối nay thết đãi yến tiệc với Hoàng đế Đại Việt, khanh ngồi cạnh ta đã nghe rõ hết rồi. Hình như kế hoạch cướp đảo của Hứa Văn đã bị nước Việt nắm rõ, dù chỉ nói bóng gió, nhưng ta biết, việc cơ mật đã bại lộ, nếu cứ cho tiếp tục, lợi bất cập hại, tai tiếng để đời, cái mưu lấy tiếng bọn thảo khấu để cướp đảo e không thành, rành rành mọi chuyện quân ta cướp đảo rõ như ban ngày, tiếng xấu lan truyền trong thiên hạ, rằng Hoàng đế Bắc triều vừa nghênh đón Hoàng đế nước Việt, vừa lén lút cho thủy binh đi cướp đảo nơi cương giới, ta sẽ hổ thẹn biết bao.

Đại quan nín thinh. Lời bệ hạ vừa nói không thể không nghe.

Hoàng thượng lại nói:

-Ta cứ tự hỏi, đảo xa như thế, cứ cho quan đại thần Đội Nhất của nước Việt ép Tiểu Tiểu, dồn Lý Bật khai ra kế hoạch cướp đảo của ta, nhưng đường biển xa xôi, sao có thể đưa tin về nước Việt nhanh như thế. Rồi ta lại tự trả lời, bao năm qua, những triều hoàng đế trước ta nữa, Bắc triều ta thực ngu ngốc, chỉ ham lấn chiếm cương giới trên đất, chỉ ham vơ vét của cải trên đất liền mà quên biển cả. Thế giới ai cũng biết Bắc triều ta đứng hàng đầu về sản xuất sắt thép, đồ đồng, vũ khí, vải vóc, tơ lụa, nhưng lại yếu nát về thủy binh, bỏ bê cương giới biển. Không như người Việt, đường sông, đường biển đều thông thuộc, hướng gió, hướng sóng ở đâu cũng rành rẽ. Đánh nhau với người Việt, chiếm đất đai cương giới của họ bao nhiêu triều đại qua, sở dĩ Bắc triều thua là vì ta phải đi đường biển đường sông, thế là ta phô ra cái yếu để rơi vào cái mạnh của nước Việt. Biết là biết thế mà không làm thế nào….

Đại quan nói:

-Bẩm Bệ hạ, nếu Bệ hạ lo lắng như thế, muốn hoãn binh lại, thần có thể sai một nhóm thủy binh đi thực thi ngay nhiệm vụ.

-Đúng vậy. Đi ngay. Mang thánh chỉ của ta sai Hứa Văn lập tức quay thuyền.

Đại quan vội vã tổ chức chiến thuyền ngay trong đêm.

Từ khi ấy, hoàng thượng Bắc triều mới ngả được lưng lên long sàng, yên tâm chợp mắt.

Đội Nhất đi thuyền về tới đảo Vú Mẹ cũng đã canh ba. Chàng quay thuyền về sớm để tính liệu một việc quan trọng. Đã quen trận chiến binh đao, Đội Nhất hiểu, thắng thua là chuyện không ai nói trước. Nay giữa nơi đảo xa, biển cả mênh mông, thắng không còn gì để nói, thua thì đường thoát e không thể không tính đến. Nay chi bằng cứ chuẩn bị một con thuyền chốt sẵn, nếu có hề chi cho mọi người lặng lẽ theo thuyền mà rút, ưu tiên đàn bà con gái, dân binh. Khi đó, Đội Nhất và anh em thủy binh sẽ ở lại đảo một phen sống mái.

Về gần tới lều, trong ánh trăng mờ tỏ, sương trắng còn bay, bỗng đâu nghe tiếng hát chèo. Tiếng hát chèo của Lý Thắm. Đội Nhất đứng sững bên lều. Lời hát ngân trong, ấm áp, vang lên trong đêm thanh vắng. Lại có tiếng sóng biển như vỗ, như hòa, như nâng, như nhịp, nghe như tiếng trống chèo thăm thẳm trong nỗi nhớ ở quê  nhà. Lời hát lại như được dâng lên, thổi lên, vút lên, quyện trong tiếng gió, quyện trong thinh không, vần vũ giữa đất trời cương giới. Lời hát ngọt lắm, điệu đàng lắm, da diết lắm, cứ như có thể níu ánh trăng xuống cát, cứ như chao chiêng màu vàng của cát trên đảo bồng bềnh trong thứ ánh sáng huyền huyền ảo ảo của trăng khuya, lại như lay lắt, níu kéo ruột gan người nghe, thăm thẳm sâu lắng về một miền thơ ấu. Như là thằng cu con Đội Nhất đang níu chân mẹ vào đêm hội làng, trong tiếng hát chèo dệt gấm thêu hoa vùng quê mùa gặt đến. Như là anh chàng Đội Nhất bâng khuâng lưu luyến phải chia tay cô thôn nữ trên con thuyền bé nhỏ chèo lướt dưới sông quê chở đầy ánh trăng bàng bạc, chở đầy những lời hò hẹn, chở đầy nỗi nhớ, chở đầy câu hát. Lại như câu hát của mẹ tiễn Đội Nhất lên đường năm nào, đường làng xanh mướt hàng tre, đường làng mịn màng đất bụi, đường làng nhằng nhịt những dấu chân mùa mưa lũ, những dấu chân người làng in trên đất, in trên bờ bãi, in vào tâm khảm chàng, in vào nỗi nhớ không nguôi, và nối nhịp bước chân chàng như là nhịp trống, nhịp thanh la, như là nhịp phách qua từng câu hát tiễn đưa của mẹ. Câu hát làm Đội Nhất tự dưng quên mình là ai, cứ lửng lơ, bâng khuâng, nhớ nhớ quên quên, lung lay trong tâm trí bao nhiêu cảm xúc mà không biết đã bao nhiêu ngày, bao nhiêu tháng, chàng không còn nhớ nữa. Chàng bước lại cửa lều, lặng im trong câu hát của Lý Thắm, ngắm nàng đang ngồi bên ngọn đèn, cắt cắt, khâu vá, và nghiêng nghiêng mái tóc thả từng câu hát vào đêm, vào trời, vào trăng, thả câu hát vào đôi mắt chàng, đắm đuối, mê say, day dứt. Nàng không hay biết. Đường kim mũi chỉ của nàng vẫn thoăn thoắt, như nàng đang rất vội, như cố khâu cho xong mũi chỉ cuối cùng. Bóng nàng hắt lên vách lều, mờ mờ tỏ tỏ. Mái tóc nàng chảy xuống, mềm mại. Đội Nhất bước vào, ngồi cạnh. Nàng nhìn Đội Nhất, ánh mắt long lanh.

-Em hát có hay không? Nàng hỏi.

-Nàng làm ta nhớ mẹ…

-Em biết. Mẹ chàng hát cũng hay lắm, chàng đã nói thế mà.

-Ừ…

-Chàng biết em đang làm gì không? Em đang may cho chàng một cái áo choàng. Trận chiến không biết lúc nào xảy ra. Em muốn chàng ra trận trong chiếc áo choàng em tự khâu, không bằng được quân phục của quan đại thần triều đình nhưng cũng phải oai phong dũng mãnh.

Lý Thắm ngắt nốt mũi chỉ cuối cùng, khoác cái áo choàng vào người Đội Nhất, ngắm nghía ra chiều ưng ý.

Đội Nhất cảm động:

-Ta hứa, ta sẽ mang cái choàng của nàng vào trận.

Lý Thắm chớp mắt lo lắng:

-Chàng có tự tin vào trận không? Em lo lắm. Quân binh của ta mỏng, vũ khí ít, có chống lại được thuyền chiến của Bắc triều?

Đội Nhất nắm tay Lý Thắm:

-Vũ khí của quân ta còn là ở trong tim mình, trong lòng mình, trận chiến nào cũng thế, người giữ bao giờ cũng mạnh mẽ hơn người cướp. Nàng hiểu chứ?

Lý Thắm lại hỏi:

-Nếu ta thua thì sao?

Đội Nhất nói:

-Ta đã chuẩn bị thuyền cho đàn bà con gái về đất liền nếu trận chiến gặp nguy biến.

-Còn chàng và anh em thủy binh?

-Đánh đến cùng. Chết cùng chết.

-Không được. Chàng và anh em phải sống

Đội Nhất ngồi xuống cạnh Lý Thắm:

-Ta hứa như vậy. Ta và anh em phải sống và giữ được đảo.

Lý Thắm nằm xuống, gối đầu lên người Đội Nhất:

-Chàng biết không… Sẽ chẳng mấy chốc nữa em sẽ sinh con… Trên đảo có tiếng trẻ con khóc, cười, vui đùa, chàng  thích chứ?

Đội Nhất gật đầu:

-Đó là điều ta mong mỏi.

-Khi em sinh con ra chàng sẽ làm gì?

-Ta sẽ hát.

-Sẽ hát?-Lý Thắm ngạc nhiên- Chàng sẽ hát ru con?

-Đúng vậy.

Lý Thắm choàng tay vào cổ Đội Nhất, thì thầm:

-Điều chàng nói làm em muốn khóc. Chàng như thế, oai phong lừng lững, chân tay cứng như gỗ lim, ăn nói bộc trực, tiếng nói át cả sóng to gió lớn, nào ngờ, chàng lại có thể hát ru…

-Đúng thế, ta sẽ hát. Người Việt mình ai mà không biết hát ru…

Rồi Đội Nhất khe khẽ cất lời.

Lý Thắm thì thầm nhắc lại lời Đội Nhất: Người Việt mình ai mà không biết hát ru.

Và nàng cũng cất lời.

Mang trong tay Thánh chỉ lui quân, con thuyền chiến của Hoàng đế Bắc triều chẳng mấy ngày mà đuổi kịp đoàn thuyền của Hứa Văn.

Hứa Văn đã nhìn thấy đảo cát vàng mờ mờ trong tầm mắt thì lệnh cho đoàn thuyền dừng lại.

Hứa Văn nói:

-Truyền đời giao chiến phải lấy bất ngờ làm chính đạo. Nay ta đã nhìn thấy đảo cát vàng của nước Việt kia rồi, chi bằng cho neo thuyền lại, cho thủy binh ăn uống no say, ngủ nghê lấy sức, từ đây tới đó cũng không còn bao xa, đợi đêm tối là rùng rùng xuất binh vào trận.

Đô đốc thủy binh gật gù:

-Đại quan cao kiến. Thần sẽ y lệnh.

Hứa Văn nhìn thấy thuyền chiến của Triều đình, treo cờ lệnh Hoàng thượng đang áp sát dần tới thì lấy làm ngạc nhiên:

-Sao Hoàng thượng lại cho thuyền đuổi theo ta?

Đô đốc cũng ngạc nhiên:

-Chắc là Hoàng thượng lo lắng, muốn sung thêm quân.

-Sung thêm quân? Có mấy thằng ranh ấy thì sung thêm cái gì. Ngươi cho hỏi xem.

Đô Đốc ra hiệu cho thuyền chiến lại gần. Trên thuyền chiến, một viên quan thủy binh của triều đình cầm thánh chỉ nói:

-Có thánh chỉ của Bệ hạ, đại quan Hứa Văn lãnh chỉ.

Hứa Văn trong người khó chịu, hỏi xẳng:

-Thánh chỉ nói gì?

Quan  thủy binh trừng mắt:

-Ngài nhận Thánh chỉ Bệ hạ mà không mau quỳ?

Hứa Văn cả cười:

-Ta đang chỉ huy đoàn thuyền chiến ở đây, cần gì phải quỳ, có gì đọc ta nghe.

Quan thủy binh cố nén giận, giăng cao Thánh chỉ, rành rọt nói:

-Thánh chỉ Bệ hạ ra lệnh cho ngài lui binh, cho đoàn thuyền trở về Hoàng cung không lưỡng lự..

Hứa Văn đỏ mặt:

-Trở về Hoàng cung?

-Đúng vậy.

-Trở về Hoàng cung?

-Đúng vậy.

-Trở về Hoàng cung?

-Đúng vậy.

Hỏi ba lần, đáp ba lần, Hứa Văn tức tối lồng lộn.

Lại nghe quan Thủy binh hỏi:

-Ta đang thấy có nhiều thuyền lớn của nước lân bang Nhật Bản cùng đi trong đoàn thuyền của Bắc triều ta là ý làm sao?

Hứa Văn nhìn viên quan thủy binh của Triều đình, khó chịu:

-Việc cơ mật, ngươi hỏi làm gì?

-Khá khen, khá khen- Viên quan thủy binh cười lớn-Việc cơ mật lại để thuyền nước lân bang theo cùng, ngươi nói vậy mà không hổ thẹn sao?

Hứa Văn sừng sộ:

-Ngươi dám…

Quan thủy binh khảng khái:

-Không nói nhiều, ngài phát lệnh lui quân.

-Không. Không. Không bao giờ- Hứa Văn gào lên.

Quan thủy binh sững sờ:

-Ngài dám khi quân?

Hứa Văn nhếch mép:

-Giữa biển cả, quân lính trong tay ta, giờ thì Bệ hạ là ta, ta là Bệ hạ.

Quan thủy binh tuốt gươm ra:

-Ngài dám…

Hứa Văn nhìn đô đốc:

-Ngươi biết làm gì chứ?

-Dạ… việc này..

-Coi như đoàn thuyền của ta chưa hề gặp thuyền chiến mang thánh chỉ của Bệ hạ..

-Nhưng thưa ngài rõ ràng là…

-Coi như thuyền chiến mang thánh chỉ của Bệ hạ trên đường ra gặp ta thì bất ngờ bị lốc biển, ta rất lấy làm đau xót.

-Thưa ngài, việc này…

Hứa Văn hét lên, tiếng hét vang cả một vùng:

-Ngu muội. Quân ta đâu, chém.

Chỉ bằng cái phẩy tay của Hứa Văn, rùng rùng mấy chục thủy binh lao tới bao vây nhóm người của triều đình. Rồi cung tên. Rồi gươm giáo. Trong nháy mắt quan thủy binh triều đình và nhóm người đi theo phụng mệnh bị chém tan tác, e không còn ai sống sót.

Tên đang cầm thánh chỉ bị chém ở cánh tay, ngả nhào xuống biển, thoát chết trong gang tấc. Hắn nhoài người nấp vào mạn đáy của thuyền, lấy miệng xé áo tự băng bó vết thương. Hắn nhét sâu thánh chỉ của Hoàng thượng vào người rồi treo người nằm im đợi tối đến để tìm cách thoát thân.

Viên đô đốc và binh lính nhìn Hứa Văn khiếp sợ.

Hứa Văn nhìn binh lính:

-Vừa nãy ta nói câu gì các ngươi nhớ chứ. Lúc này, Bệ hạ là ta, ta là Bệ hạ. Hiểu cả chưa?

Tất cả:

-Dạ hiểu.

-Lúc này, chỉ có một việc duy nhất là tiến tới hòn đảo kia, hút lấy nước lửa mang về. Ai chống lệnh, chém, hiểu cả chưa?

-Dạ hiểu.

-Ta nhắc lại lần nữa, lúc này, từ bây giờ, Bệ hạ là ta, ta là Bệ hạ. Tất cả nhất nhất tuân theo. Lời của ta cũng là Thánh chỉ. Hiểu cả chưa?

Râm ran:

-Dạ… Dạ… Dạ…

Hứa Văn gật gù:

-Hảo. Hảo…

Và lại ngửa mặt lên trời cười ha hả.

Nhưng bất ngờ, có cái gì đó chẹn lại trong cuống họng.

Hứa Văn ho sặc sụa một lúc mới thôi.

Hoàng hôn cũng đã buông xuống.

Hứa Văn nhìn trời, nhìn biển đang sẩm màu dần. Hứa Văn vung tay:

-Xuất binh.

Mặt trời đã gần khuất trên biển..

Nhóm thủy binh gác đảo đứng trên cột buồm lớn đã nhìn thấy bóng dáng của đoàn thuyền chiến Bắc triều đang hướng về đảo Nước Lửa.

Họ đưa cái vỏ ốc lên miệng, thổi liên hồi.

Tiếng vỏ ốc vang động, truyền từ đảo Núi Lửa sang tới đảo Ốc. Từ đảo Ốc, các thủy binh lại thổi truyền sang đảo San Hô. Cứ thế, những tiếng vỏ ốc vang động, dồn lên từng hồi, báo động tới tận đảo Đá Hút, đảo Chim Yến, đảo Vú Mẹ.

Thủy binh, dân binh, các thiếu nữ, tất cả đều dồn về chân đảo, ẩn mình sau những gờ đá, mỏm cát, trăm mắt như một nhìn ra phía biển khơi.

Toàn bộ thủy binh đều có mặt ở đảo Núi Lửa, cung tên, gươm giáo sẵn sàng. Ở các đảo khác, dù không phải phận sự chiến đấu, nhưng giờ phút này không ai ngồi yên được.

Đội Nhất chỉ huy quân binh ở chân đảo Nước Lửa, Lý Đạt chỉ huy ở khu vực trung tâm.

Trăm thủy binh dàn thành vòng cung, ẩn mình sau cát, trong cát, sau ghềnh đá, mặt hướng về đoàn chiến thuyền của Bắc triều, im lặng.

Đảo không nghe một âm thanh nào hết, cả tiếng chim hải âu cũng như nén lại.

Ráng chiều đã xuống. Thứ ánh sáng màu hồng chiếu xiên qua đảo, chiếu xiên qua gương mặt của các thủy binh, dân binh. Trên từng gương mặt của họ, màu hồng của nắng như làm căng lên những gò má vốn đã cháy nắng, những gương mặt giờ hồng rợng lên, đẹp như những thiên thần lửa, lấp lánh những giọt mồ hôi nhìn như những hạt ngọc.

Đội Nhất ngắm nhìn quân binh của mình, ngắm nhìn các chàng trai đang sẵn sàng vào thế trận, ngắm nhìn họ trong ráng chiều tà, trong cái thứ ánh sáng màu hồng ấy, màu hồng như màu cờ, và hàng trăm đôi mắt như đang đỏ rực lên nhìn về phía đoàn thuyền chiến- hàng trăm mắt đảo.

Tổ Quốc hiện ra chói ngời, trong vắt, rừng rực lửa trong những đôi mắt người Việt đang bám bên nhau, trụ bên nhau, người trong tay người, người trong cát đảo, đảo và người trong nhau thành một khối, tất cả đều đang nhuốm hồng trong ráng chiều, cảm tưởng như các đảo đều là những quả cầu đỏ.

Tổ Quốc đôi khi chỉ là con còng gió, chạy trên cát vàng, trong ráng chiều, chạy tự do trên hòn đảo, đơn giản như vậy thôi, nhưng đó là con còng gió của nước Việt trên đảo của  nước Việt, nơi mà Đội Nhất phụng mệnh hoàng thượng trấn giữ và bảo vệ.

Tổ Quốc đôi khi như những vạt rau muống biển, nở hoa màu tím, mọc dày trên cát, thứ rau muống dại không dễ ăn, nhưng giờ là tán che khổng lồ giúp Đội Nhất và các quân binh giấu mình dưới mắt nhìn của giặc. Những sợi dây rau muống biển dài và chắc, cánh lá sum suê, như cả tán rừng, che lên chiến hào, lên ụ đất, nhìn từ ngoài vào không thể biết được đó là công sự, đó là chiến tuyến phòng thủ. Lung lay trong gió nhẹ, những cánh hoa muống biển màu tím nhạt, lại điểm thêm chút nắng hồng chiều tà, đẹp đến ấm lòng.

Tổ Quốc là cát, là đá, là những con sóng trào vỗ bờ trắng xóa, bao quanh những hòn đảo nhỏ, nhìn thì cô đơn giữa muôn trùng biển, nhưng trên đảo là người, người Việt, là Đội Nhất, là anh em. Trên bầu trời đảo còn là những cánh hải âu chao liệng, ríu rít tiếng kêu, những cánh chim hải âu khi vụt bay cao, khi nghêng cánh sà xuống, cả những mẫu phân nhỏ bé của hải âu bay bay trong gió rồi rơi xuống cát, xuống đá, xuống cả đầu người cũng thuộc về Tổ Quốc.

Tổ Quốc là những giọt nước mắt của quân binh, thủy binh, của các cô gái, đêm đêm âm thầm khóc vì nhớ quê, nhớ nhà, nhớ bàn tay ấm áp của người mẹ, nhớ cái mùi khói thuốc của người cha, nhớ cả tiếng gà gáy vang vang trong những buổi chiều khói vương rơm rạ trên cánh đồng vào mùa gặt. Họ khóc vì nhớ. Mà nếu không biết khóc vì nhớ thì sẽ không biết khóc vì nhục. Đội Nhất vẫn nói với anh em, ai nhớ nhà cứ khóc đi, không sao cả. Tổ Quốc giản dị như những giọt nước mắt ấy thôi, nhưng đó là giọt nước mắt nhớ đất liền đến quặn lòng, đến tan tác, đến bàng hoàng, nhưng không phải là giọt nước mắt khóc vì nhục.

Tổ Quốc bắt đầu từ những mũi kim sợi chỉ, chị em trên đảo khâu vá quần áo cho anh em mình, đường kim mũi chỉ trên những bàn tay ngọc, phả hơi ấm trên những cơ thể cường tráng của các chàng trai, dồn cho họ niềm tin, tình thương yêu, sự chia sẻ. Đảo có đàn bà và đàn ông, có cả những bước chân mạnh mẽ gan góc giẫm trên cát, trên đá, trên sóng biển, lại có cả những dấu chân con gái, in nhè nhẹ như thêu, như vẽ trên cát, làm điệu làm dáng cho những hòn đảo vốn bao đời trơ trọi, cô đơn trên biển cả. Dấu chân con trai, con gái trên đảo cương giới cũng thuộc về Tổ Quốc.

Tổ Quốc là ánh nắng chiều nay, nắng chiều hoàng hôn, màu hồng tươi rói như màu cờ Đại Việt, cả bầu trời cứ ráng hồng lên như thế, lấp lánh, và những gương mặt của anh em thủy binh, dân binh, các cô gái trên đảo cũng đang rực lên trong màu hồng ấy, có khi màu hồng chuyển đậm như màu máu. Đội Nhất nghĩ tới trận chiến sắp xảy ra, ai còn, ai mất, và cát vàng kia sẽ nhuốm máu đỏ của anh em, nhưng ngay cả khi cát vàng ở đảo cháy đỏ màu máu của anh em, thì đảo vẫn thuộc về Tổ Quốc.

Tổ Quốc là mảnh ván khắc hai chữ ĐẠI VIỆT cắm sâu vào tim các đảo. Ánh nắng chiều hắt bóng cột mốc giới, đổ bóng dài vắt ngang trên đảo, bóng dài cột mốc im lìm hằn trên đảo, trong mắt nhìn, hằn vào trái tim của anh em một lời thề, lời thề không âm thanh, lời thề sâu thẳm, lời thề nặng trĩu, truyền đời này sang đời khác, trong máu, trong khí huyết, trong hơi thở.

Tổ Quốc là lá cờ mang chữ Quốc vương nước Việt, bay trong gió biển, là nơi anh em nhìn tới mà đứng thẳng, mà can trường, là dấu vết muôn đời của người Việt, là câu trả lời kiêu hãnh với thế giới, lá cờ còn, đảo còn, lá cờ màu máu, đi suốt ngàn năm, đi từ cương giới đất liền ra cương giới đảo, đến tay Đội Nhất và anh em, nhìn lá cờ tung bay như thấy vẹn nguyên và vĩnh hằng đất đai bờ cõi, rạng danh Tổ Quốc.

Lý Đạt ngồi cạnh Huệ Hương. Lâu rồi, hôm nay Lý Đạt mới có dịp ngắm nhìn gương mặt người bạn gái của mình trong ánh nắng chiều màu huyết dụ. Họ chưa nói gì với nhau về tình yêu. Nhưng ánh mắt họ nhìn nhau cũng đủ thấy đến như bão tố cũng khó mà ngăn trở, đến như cái chết cũng khó mà chia lìa. Giờ thì được bên nhau, họ vẫn im lặng. Bàn tay thon nhỏ ấm áp của Huệ Hương đặt lên bàn tay đang cầm kiếm của Lý Đạt, truyền vào đấy những lời thì thầm, những lời ước hẹn, những điều mong mỏi. Những sợi tóc mai của Huệ Hương bay nhẹ, vương vất trên gương mặt rám nắng của Lý Đạt, những sợi tóc óng ánh, có mùi của biển cả, có mùi của muối mặn, có cả mùi hương của sả, của bồng bưởi từ quê nhà. Lý Đạt choàng cánh tay qua eo lưng của Huệ Hương, như thể chàng đang choàng tay ôm lấy cả mảnh làng trong đất liền xa thăm thẳm. Đôi môi nàng ửng hồng lên, phấn son không thể so được với màu nắng chiều đang làm cho bờ môi nàng mọng chín. Ánh mắt nàng long lanh như ngọc, chất chứa yêu thương, ẩn vào cái nhìn của nàng sang Lý Đạt thăm thẳm sâu, cái nhìn yêu, cái nhìn khát, cái nhìn mong đợi, cái nhìn ngưỡng mộ, cái nhìn khích lệ. Ánh mắt nàng thay ánh mắt của cả triệu ánh mắt đàn bà nước Việt, chỉ bằng cái nhìn đắm đuối, dịu dàng, ấm áp ấy thôi, có thể đủ sức mạnh cho cả triệu binh sĩ nước Việt đứng thẳng trước mũi tên hòn đạn quân thù để bảo vệ đất nước. Họ có thể chết nhưng là cái chết vì đất đai bờ cõi, họ có thể ngã xuống, nhưng ngã xuống trong đáy mắt thương yêu của đàn bà nước Việt, ánh mắt sẽ mãi mãi ôm ấp thân xác họ, như những nấm mồ, những nấm mồ trong ánh mắt đàn bà khích lệ sự hy sinh của đàn ông Việt xả thân vì đất nước.

Còn ở đảo Vú Mẹ, Lý Thắm mang cái bụng chửa giờ đã lồ lộ, tròn mềm, ngồi thu lu, bó gối, đưa mắt đau đáu nhìn về đảo Nước Lửa, nhìn về trận chiến sắp xảy ra, nhìn về hướng Đội Nhất của nàng đang đợi giặc.

Bàn tay Lý Thắm đặt lên đỉnh bụng, xoa nhè nhẹ lên vòm bụng nơi có đứa con sắp ra đời.  Nàng không mấy bận tâm đứa con này là con của Đội Nhất hay của chàng trai nào trên đảo. Đội Nhất cũng không mấy bận tâm về điều đó. Nàng đã xác định, nàng cần có con cho đảo, và đứa con đó mang dòng máu của Đội Nhất hay của anh em thì cũng được sinh ra ở đảo, là con của đảo. Trên đảo xa nơi biển cả, không ai độc chiếm tình yêu, không ai độc chiếm hạnh phúc, không ai độc chiếm ai, chỉ có một thứ phải độc chiếm, sống và chết vì nó, đấy là đảo, là cương giới, là đất cát trên từng hòn đảo. Ở đây không có chỗ cho sự ghen tuông, cho lòng ích kỷ, cho sự đố kỵ. Ở đây chỉ có mênh mông tình yêu thương giữa những con người, họ sống trong nhau, nương tựa nhau, mỗi người mang một mảnh làng, mấy trăm con người trên đảo là mấy trăm mảnh làng, cắm chân trên đảo.

Đảo nay đã đông người, có đàn ông đàn bà, sẽ có những cặp đôi, sẽ có đám cưới, sẽ có con trẻ, sẽ có những tổ ấm, những tổ ấm bé nhỏ và yêu thương nằm trong những tổ ấm đảo lớn, đảo bé, rồi sẽ có làng Việt, sẽ có trẻ con Việt, ngàn năm nữa ở đây vẫn là người Việt, Lý Thắm tin như vậy.

Còn lúc này thì nàng ngồi, chăm chăm nhìn về phía đảo Nước Lửa, trong ánh nắng chiều, trong bát ngát biển xanh, những gợn sóng lăn tăn êm ả dồn lên nhau, như có thể đưa ánh mắt, nỗi lòng, sự lo lắng không nguôi của nàng tới chiến trận, tới anh em, tới Đội Nhất.

Nàng ngồi im lặng, bóng nàng chảy dài trên màu vàng óng ánh của cát, bóng nàng biến nàng thành người khổng lồ, tự như nàng không đơn thân là nàng, mà trong nàng là cả triệu vóc dáng của những người đàn bà Việt, giờ này muôn phần lo toan, muôn phần hướng đến anh em nơi chiến trận sắp xảy ra, muôn phần chờ đợi. Sự chờ đợi của những người đàn bà dành cho người đàn ông Việt nơi chiến trận cũng sẽ biến thành sức mạnh ở cung tên, nơi gươm giáo trước quân thù. Chưa lúc nào Lý Thắm thấy biển yên ả đến thế. Màu xanh của biển giờ không hẳn là màu xanh nữa, trên từng gờ sóng là ráng hồng của nắng, lấp lánh, chấp chới, như gấm vóc, biển như dát đầy vàng, biển như thảm ngọc, đẹp đến thế thì nàng không thể không nhìn ngắm.

Đảo Vú Mẹ giờ không còn đàn ông. Đàn ông trai tráng đã theo Đội Nhất sang đảo Nước Lửa tham chiến. Vú Mẹ chỉ còn phụ nữ. Và như nàng, như Lý Thắm, các cô gái cũng nôn nao bước lên đỉnh Vú Mẹ, đau đáu nhìn về đảo Nước Lửa, lo lắng, hồi hộp, chờ  đợi, nhớ thương mong mỏi. Trong cả trăm cô gái, Đội Nhất chỉ đưa đi Huệ Hương cho tham chiến, Lý Thắm không biết vì sao chàng lại chọn một cô gái đi theo nhưng nếu nàng nghĩ không sai, thì Đội Nhất muốn Lý Đạt, Huệ Hương cạnh nhau trong trận chiến muôn phần khó khăn này.

Nghĩa là bây giờ, các cô gái được lệnh từ các đảo dồn về đảo Vú Mẹ ở bên Lý Thắm.

Như vậy có nghĩa là trên đảo Vú Mẹ, ngoài Lý Thắm làm đàn chị, là 99 cô gái trẻ đang xê dịch lại bên nhau, mắt nối mắt hướng về nơi chiến trận.

99 đôi mắt nhìn về đảo Núi Lửa, trong nắng chiều tà, mà từ một nơi trên biển xa, họ đã thấy bóng dáng của đoàn thuyền chiến Bắc triều đang tới ngày một gần.

99 nỗi lo lắng bồn chồn dù không nói ra bằng lời, nhưng ở nơi xa ấy còn có 99 chàng trai của họ, 99 lời hứa hẹn với họ, 99 niềm hy vọng của họ.

Các cô gái xếp thành hàng, vây tròn trên đỉnh cát, ngóng đợi.

Nắng xuyên qua tà áo mỏng trên thân thể các cô gái, ánh nắng chiếu chênh chếch làm lộ ra rừng rực chín mươi chín bộ ngực các cô gái trẻ, lộ ra dáng hình chín mươi chín cặp vú tròn căng, sức lực, mong mỏi hướng về các chàng trai đang chuẩn bị vào trận binh đao. Chín mươi chín đôi vú khát khao ấy lại ở trên đỉnh Vú Mẹ, như cả triệu người mẹ Việt đều dồn hết ra cương giới này, bảo vệ, ngóng trông chiến thắng từ những người lính trẻ.

Mây trắng ửng hồng phía trên bầu trời đảo.

Những gợn mây có khi như hình mũi giáo mác, xếp bên nhau tua tủa giăng kín quanh bầu trời đảo tựa như trời cũng đang góp sức, góp lực giúp cho binh quân Đội Nhất giữ đảo.

Có khi những áng mây như con thuyền, xếp thành nhiều con thuyền, dong buồm thẳng phía trời cao, mạnh mẽ và kiêu hãnh, cánh buồm được xếp bằng những nếp mây, như nếp vải, rực hồng lên giữa không trung.

Có khi những áng mây dồn đuổi thành hình những con rồng cháy đỏ trong lửa, những con rồng Việt, mây xếp đuôi rồng mềm mại quần tụ trên đảo cát, lung linh, sinh động, và hình như ngay chỗ Đội Nhất đang cùng anh em cát cứ, có hình dáng rồng lửa che chở và nâng đỡ.

Và cát nữa, những hạt cát vàng, hạt cát li ti, nhiều sắc cạnh, nhìn dưới ánh lửa thì trong như ngọc, nhìn dưới nắng chiều thì óng ánh long lanh, triệu triệu hạt cát xếp bên nhau, dựng nên đảo, dựng nên đất đai cương giới giữa trùng trùng biển cả.

Đội Nhất nhìn về phía đoàn thuyền chiến của Bắc triều đang tới gần, lúc ẩn lúc hiện sau những lớp sóng, sau những ráng mây, đoàn thuyền nhiều hơn tính toán của Đội Nhất. Đoàn thuyền lúc dàn hàng ngang, lúc xếp thành hàng dọc, như bàn tay bẩn của bọn thảo khấu, nhăm nhe, chờ chực để có thể vồ tới, chộp tới xé nát đảo cát vàng.

Đội Nhất nhìn khắp lượt đảo Nước Lửa, nhìn khắp lượt những gương mặt hừng hực sẵn sàng tham chiến của anh em mình, rồi chàng nâng cái vỏ ốc lên miệng, thổi một hồi dài.

Đó là mệnh lệnh chuẩn bị tham chiến.

Đó là mệnh lệnh của trận binh đao sắp xảy ra.

Đó là lời thúc giục các chiến binh nắm cung nỏ, gươm giáo chuẩn bị xả thân vì cương giới.

Tiếng kêu vang vọng, trầm âm của vỏ ốc như tiếng nước non.

Nắng chiều chìm dần vào biển cả.

Trận binh đao sắp xảy đến.

Đêm.

Hứa Văn kéo Khắc Ngôn lên mũi thuyền:

-Giờ thì nhà ngươi phải vào đảo trước xem động tĩnh. Ta không tin là Đội Nhất dễ dàng cho ta vào chiếm đảo như thế. Người Việt mưu kế truyền đời, không thể chủ quan.

Khắc Ngôn nói:

-Ngài quá lo xa. Cho dù Đội Nhất kéo hết quân binh tới đảo thì cũng làm gì được ta? Ngài xem, quân binh của ta đông như kiến, chỉ cần Ngài xua quân lên đảo, chẳng làm gì cũng đập nát được người nước Việt

Hứa Văn nhếch mép:

-Ta biết thế, nhưng cẩn thận vẫn hơn. Ta đã giấu Bệ hạ, xin một lấy hai, nên trên các chiếc thuyền, quân binh tính cả mấy trăm người. Quân Đội Nhất đông lắm cũng chỉ non trăm người, chống sao được ta. Nhưng ý ta không muốn tốn một mũi tên nào, ta đã xua quân lên tức là bóp nát chúng, giết sạch, bắt sống Đội Nhất, vậy là xong việc. Quân binh cứ thế lấy nước lửa chất lên thuyền. Hảo a?

Khắc Ngôn chắp tay:

-Vậy thần sẽ vào trước.

Hứa Văn hỏi:

-Còn bao xa?

Khắc Ngôn nói:

-Ngài nhìn đi. Dù là đêm tối, cũng đã thấy đảo mờ mờ trong sương, thế là gần rồi, có thể bơi vào được. Ngài thúc thuyền nhanh chóng dàn hàng ngang áp sát. Khi nhìn thấy thần đốt lửa trên đảo thì cứ thế mà vào.

Hứa Văn gật đầu ưng ý.

Khắc Ngôn chốc lát đã mất hút dưới làn nước.

Đội Nhất và anh em đã nhìn thấy bóng những con thuyền lớn lù lù áp sát vào chân đảo.

Bất ngờ, Đội Nhất nhìn thấy có tiếng động lạ ở bờ sóng rồi một bóng đen trườn từ nước lên, trườn nhanh tới căn lều của Tiểu Tiểu và Lý Bật. Đội Nhất ra hiệu cho hai thủy binh bí mật bám theo.

Một lát, Đội Nhất nhận được tin báo, có quân của Hứa Văn lẻn vào gặp Tiểu Tiểu. Đội Nhất tới lều. Lý Bật liến thoắng:

-Bẩm ngài. Đây là Khắc Ngôn, tay chân của Tiểu Tiểu đang từ thuyền lẻn vào bắt mối.

Khắc Ngôn liếc mắt nhìn thanh kiếm sắc trên tay Đội Nhất, lại nhìn Tiểu Tiểu.

Tiểu Tiểu nhìn Đội Nhất, nói:

-Bẩm ngài, thần đã nguyện nghe lời ngài, xin ngài cứ sai bảo.

Đội Nhất hỏi Khắc Ngôn:

-Chiến thuyền Bắc triều của ngươi có bao nhiêu chiếc? Bao nhiêu lính?

Khắc Ngôn líu ríu thưa:

-Dạ 12 chiến thuyền, hơn 300 lính.

Đội Nhất hỏi:

-Hứa Văn yêu cầu ngươi làm gì khi lẻn vào đảo trước?

Khắc Ngôn hạ giọng:

-Dạ bẩm… Chỉ cần thấy đảo đốt lửa là quân binh ào ào xông vào.

Đội Nhất nhìn Tiểu Tiểu và Lý Bật:

-Các ngươi theo ta hay theo Hứa Văn?

Cả Tiểu Tiểu và Lý Bật run rét mà cùng nói:

-Dạ bẩm… Không theo ngài thì theo ai, xin ngài cứ sai bảo.

Đội Nhất nói:

-Ta vốn không muốn gây chuyện binh đao. Bệ hạ ta muốn giữ hòa hiếu hai nước. Nay ta sai các ngươi ra thuyền, nói với Hứa Văn, đảo này là của nước Việt, không gây chiến, không tranh giành, về đi.

Tiểu Tiểu, Lý Bật, Khắc Ngôn nhìn nhau.

Đội Nhất gằn giọng:

-Đi ngay. Ta cho thuyền nhỏ đưa ra. Đi đi.

Hai thủy binh lấy con thuyền nhỏ cho Tiểu Tiểu, Lý Bật, Khắc Ngôn lên thuyền.

Lý Đạt ngạc nhiên nhìn Đội Nhất:

-Đại ca. Quân ta đã bày binh bố trận, phần thắng nắm chắc trong tay, cơ hội giết giặc đã tới, sao đại ca lại có ý đình chiến?

Đội Nhất nói:

-Ta không đình chiến mà là hủy chiến. Nếu thuyết phục được chúng quay về, không xảy ra binh đao vẫn là tốt. Đảo này của nước Việt, ai khiêu khích, ai xâm hại, giết không tha. Nhưng nếu chúng biết phận mà quay về, không phải đánh giết nhau vẫn tốt. Ta phụng mệnh Bệ hạ, lấy hòa hiếu làm chủ.

Lý Đạt tỏ vẻ không bằng lòng:

-Nếu chúng vẫn không chịu rút thì sao?

Đội Nhất ôm vai Lý Đạt:

-Nếu nó không chịu rút, vẫn cương quyết cướp đảo ta, ta và đệ đánh đến cùng, đệ hiểu chứ.

Hứa Văn cười hơ hớ, chỉ mặt Lý Bật:

-Nói ta nghe, ngươi  vốn là quan đại thần nước Việt, ngươi nói thử coi, quân binh ta thế này, Đội Nhất sợ không đánh lại nên bàn chuyện lui binh đúng thế không?

Lý Bật nói:

-Theo như Đội Nhất nói, không muốn binh đao, đảo là của người Việt, không ai có thể đánh chiếm.

Hứa Văn gào lên:

-Bệ hạ ta cũng ra thánh chỉ lui quân. Đội Nhất các ngươi cũng cho người nhắn ta lui quân. Thế là sao? Không. Đuổi chúng đi. Đánh.

Tiểu Tiểu, Lý Bật bị đẩy xuống hầm thuyền.

Hứa Văn rung chuông, thổi kèn, báo hiệu cho cả đoàn thuyền ầm ầm tiến vào chân đảo.

Đội Nhất nhắn tin cho anh em án binh bất động.

Đảo im lìm.

Hứa Văn xua quân lên không gặp bất cứ kháng cự nào.

Trong màn đêm, đội quân của Hứa Văn đông như kiến cỏ, nhung nhúc, nhung nhúc, rùng rùng chuyển động, chẳng mấy chốc phủ kín trên đảo, những bóng đen di chuyển, mờ ảo, như những bóng ma.

Hứa Văn cầm tay Khắc Ngôn:

-Cái giếng ấy ở phía nào?

Khắc Ngôn nói:

-Ngài cho người đi theo thần.

Hứa Văn hạ lệnh cho dân binh, mang vác thùng gỗ ào ào chạy theo Khắc Ngôn.

Hứa Văn đứng lại, ra hiệu cho thủy binh dừng chân.

Hứa Văn không thấy ai là quân lính của Đội Nhất. Hắn chạy tới gặp Khắc Ngôn:

-Ngươi nói ngươi đã gặp Đội Nhất?

-Dạ đúng thế.

-Sao không thấy kháng cự?

Khắc Ngôn nhìn quanh:

-Thần cũng thấy thế. Hoặc có thể nhìn thấy sức mạnh của quân ta đã bí mật cho quân binh rút chạy.

-Rút chạy?

-Dạ đúng thế. Quân Đội Nhất chỉ chưa tới trăm người, quân ta cả mấy trăm người, không rút chạy trước mới lạ, thưa ngài.

-Mày nói có lý nhưng tao e…

Hứa Văn cảm thấy chột dạ.

Đảo im lìm như không có bóng người.

Hay chúng nó đang giăng bẫy ta?

Hứa Văn một mặt thúc giục dân binh đào giếng lấy nước lửa, một mặt thúc thủy binh nhanh chóng áp sát vào trung tâm đảo.

Khắc Ngôn hớt hải tâu báo:

-Bẩm ngài… Giếng không có nước lửa.

-Không có nước lửa? – Hứa Văn lao tới- Tại sao?

Khắc Ngôn nói:

-Nếu con nói không nhầm, nước lửa lên xuống theo thủy triều, thủy triều lên, giếng đầy, thủy triều xuống, nước rút, nay thủy triều lại xuống…

Hứa Văn lúng túng:

-Đã thế, đã thế, cho thủy binh cắm trại, chiếm đảo, nếu gặp người Việt, chém.

Tiếng dạ râm ran.

Đội Nhất quan sát cho tới khi nhóm thủy binh cuối cùng rời thuyền, chàng nâng cái vỏ ốc lên thổi một tiếng dài.

Ngay lập tức, sau những ghềnh đá, sau những mô cát, dưới những hố sâu, các thủy binh đội cát xông lên. Những ánh kiếm chém xa xả vào quân lính của Hứa Văn.

Tại trung tâm đảo, Lý Đạt phát lửa.

Hứa Văn choáng váng thấy muôn vàn những đường lửa lớn cháy rừng rừng, những ngọn lửa chạy thành từng đường vòng trên đảo, những đường lửa khép lại, vây lấy từng nhóm lính, chia nhỏ chúng ra, và loang loáng trong ánh sáng của lửa là tiếng hò hét, là tiếng kiếm sắc chém xa xả, là tiếng cung nỏ, chỉ trong chốc lát, quân binh của Hứa Văn tán loạn chạy tứ chiếng. Nhưng quân binh của Hứa Văn chạy tới đâu thì lửa xuất hiện tới đấy, những vòng lửa lớn vây chặt chúng lại, còn bên ngoài, các thủy binh nước Việt giăng cung nỏ, tỉa từng tên một, chém từng tên một.

Cả đảo như chảo lửa.

Lửa thành lực lượng.

Lửa như binh khí.

Lửa như quân binh.

Hứa Văn và đội quân quay cuồng, giãy dụa, la hét, hoảng loạn trong các vòng lửa.

Lửa theo từng đường hào chạy ngoằn ngoèo theo chân kẻ cướp đảo.

Lửa bén vào những sợi dây bùi nhùi quấn cả dưới chân quân lính của Hứa Văn

Lửa âm ỉ trong những hầm lớn, được che miệng sơ sài như cái bẫy, từng nhóm lính Bắc triều bị sụp chân, lao đầu xuống từng hố lửa, giãy giụa, la hét đến vang động cả không gian.

Hứa Văn hoảng sợ xua quân rút ra thuyền.

Ngay tức khắc, các thủy binh nhận lệnh của Đội Nhất kéo cả ngàn ngàn vỏ ốc trên biển, những vỏ ốc chứa nước lửa bùng cháy, giăng kín ngoài biển, chen vào từng ngóc ngách của các chiến thuyền, thuyền bén lửa cháy bùng bùng, không kịp hoàn hồn thì mười mấy con thuyền đã bùng lên thành mười mấy ngọn lửa lớn.

Hứa Văn kéo tàn quân xông vào đảo, vung kiếm áp sát, sống chết đến cùng vì thế cùng lực tận, đường lui cũng hết.

Tới lúc này thì dân binh trên đảo rùng rùng đốt đuốc, hàng trăm ngọn đuốc cháy phừng phừng, cắm thành vòng quanh đảo.

Những gương mặt thủy binh của quân Đội Nhất bừng bừng sát khí.

Hứa Văn cùng quân binh của mình bị vây chặt.

Hứa Văn hét lên một tiếng, tất cả cùng Hứa Văn lại xông ra.

Hai bên giáp mặt nhau một trận cuối cùng, sống mái.

Hô hoán lên thế nhưng Hứa Văn lại khôn ngoan ẩn sau lưng những tên lính, lẻn trốn. Huệ Hương nhìn thấy. Nàng rút kiếm đuổi theo. Lý Đạt nhìn thấy mà không kịp cản. Chàng vừa chém giặc vừa cố quan sát theo Huệ Hương.

Huệ Hương băng qua những vòng lửa, khéo léo chạy đường vòng, không mấy khó khăn nàng đã đuổi kịp Hứa Văn.

Hứa Văn chưa kịp định thần thì Huệ Hương đã dùng chân đạp thẳng vào người, dí mũi kiếm vào mặt.

Mấy thủy binh gần đó xông đến, trói nghiến Hứa Văn, kéo lại trước Đội Nhất.

Quân Hứa Văn số chết thì nằm la liệt ngang dọc trên cát, số bị thương thì quằn quại rên rỉ, số còn sống thì co lại một chỗ, buông kiếm, buông cung tên xin hàng.

Hứa Văn bị trói, ngồi gục dưới chân Đội Nhất. Quanh hắn là quân binh đang ngồi một đám thảm hại.

Hứa Văn nhìn ra biển, đội thuyền của hắn vẫn đang cháy rừng rực, sáng cả một vùng.

Bình minh lên rất nhanh.

Đảo Nước Lửa không còn màu vàng của cát nữa. Trên đảo là màu đỏ của máu, màu đen của nhằng nhịt những vết cháy.

Lý Đạt nói với Đội Nhất, quân ta tử trận bốn mươi anh em, bị thương hai mươi.

Xác quân thù được kéo hết ra mép biển.

Đội Nhất cho sửa nhanh một con thuyền của Hứa Văn, chất lên đấy xác chết và lũ thủy binh bị thương, lại cấp cho lương thảo, nước uống, thả tự do cho chúng về nước.

Đội Nhất giữ lại Hứa Văn.

Tiểu Tiểu và Lý Bật cũng đã thoát được, cướp vội một con thuyền chạy từ trước.

Hứa Văn ngồi trên cát, mặt mày lem luốc, áo quần cháy sém.

Đội Nhất bước tới:

-Ta đã từng cứu ngài lúc bão tố, vẫn tưởng ngài biết được hai chữ chủ quyền. Nay lại chính ngài đưa quân ra xâm chiếm, tội ngài liệu sống được chăng?

Hứa Văn quắc mắt lên:

-Cứ chém.

Đội Nhất cười:

-Ta muốn ngài bị chém trước lưỡi kiếm của Hoàng thượng ta. Ta muốn cho các nước lân bang biết rõ, Hoàng thượng nước ngài đã sai bảo ngài đi cướp đất cương giới nước Việt như thế nào.

Hứa Văn im lặng.

Hứa Văn được đưa về kinh thành  nước Việt trong thân phận của kẻ bị bắt, thua trận nhục nhã, được nhốt trong cũi gỗ, suốt ngày cụp mặt, ai tới gặp hắn cũng khúm núm sợ sệt, một hai xin tha mạng.

Lý Đạt được Đội Nhất giao phó tấu trình lên Bệ hạ việc Bắc triều gây hấn xâm lược đảo Núi Lửa do Hứa Văn cầm đầu.

Cùng lúc Hứa Văn được dẫn giải vào cung thì Hoàng thượng nước Việt cũng nhận được sắc chỉ của Hoàng đế Bắc triều.

Hoàng thượng nước Việt chong đèn cả đêm không ngủ.

Canh năm, Hoàng thượng cho vời quan viết sử Lý Vân, quan nội cung và cả Lý Đạt  tới.

Lý Vân nhìn sắc mặt không vui của Hoàng thượng, cất lời:

-Bẩm Bệ hạ. Nếu theo tấu trình của Quan đại thần Đội Nhất, lại theo lời trình của đô đốc Lý Đạt và lời khai của Hứa Văn, quân binh ta đã thắng được một cuộc chiến xâm lược đảo của Bắc triều, quân ta thế mạnh, lực mạnh, uy mạnh, thêm lần nữa khẳng định cương giới với thiên hạ, được vậy đáng lý lấy làm mừng, quan quân còn đang đợi Bệ hạ ban thưởng cho quân binh, dân binh của Đội Nhất, sao Bệ hạ suy tư suốt đêm không ngủ?

Hoàng thượng nhìn khắp lượt, ôn tồn:

-Ban thưởng cho thủy binh, dân binh của Đội Nhất ngoài cương giới là phải ban thưởng. Ta tự hào về trận đánh đó, dù phải xa triều đình, anh em sống chết bên nhau giữa muôn trùng biển cả, ta ít, địch nhiều mà vẫn thắng, ấy là đáng trọng thưởng. Chỉ có điều…

Các quan đại thần nhìn nhau.

Lý Đạt thưa:

-Bẩm Bệ hạ, ta không gây hấn. Bắc triều ỷ vào nước lớn, thèm khát nước lửa, đã hàm hồ xua quân cướp đảo, anh em một lòng giữ đảo, dù thắng nhưng thân xác 40 anh em thủy binh ngã xuống, điều đó khiến Bệ hạ buồn phiền thương xót?

Hoàng thượng tư lự:

-Ta đã ra sắc chỉ cho triều đình chi tiền bạc cho những gia đình có anh em thủy binh mất mạng vừa qua trong cuộc chiến với quân Bắc triều. Cái chết của anh em nơi cương giới khiến lòng ta xót thương, đau đớn. Chỉ có điều…

Quan nội cung nhìn sắc chỉ của Hoàng đế Bắc triều trên tay Hoàng thượng:

-Nếu thần không sai thì Bệ hạ vừa nhận được sắc chỉ của Hoàng đế Bắc triều quở trách nước Việt ta?

Hoàng thượng vân vê ống quyển đựng sắc chỉ của Hoàng đế Bắc triều, đăm chiêu:

-Các khanh có biết Hoàng đế Bắc triều viết gì cho ta không? Họ vừa như thanh minh với ta về cuộc binh đao vừa qua, lại vừa có ý dọa dẫm.

Các quan đại thần nhìn nhau.

-Các khanh biết không. Bắc triều nói rằng, quân binh của Đội Nhất đã ỷ vào việc trấn giữ đảo giữa biển khơi, xa triều đình, vắng sự kiểm soát, nên đã xua quân cướp đoàn thuyền buôn của Bắc triều, giết chết nhiều người, bắt cả quan đại thần triều đình Bắc triều là Hứa Văn. Quân binh nước Việt ngoài cương giới đảo giờ thành bọn thảo khấu, đã là thảo khấu thì Bắc triều không dung tha.

Lý Đạt hét lên tức giận:

-Tráo trở… Lá mặt lá trái đến thế, xin Bệ hạ không dung thứ.

Quan viết sử Lý Vân:

-Có chuyện chi đây? Có chuyện chi mà Hoàng đế Bắc triều có thể biến một cuộc xâm chiếm đảo trắng trợn giữa ban ngày ban mặt thành như nạn nhân của một vụ cướp giật do chính quân binh nước Việt tổ chức? Có chuyện chi đây?

Hoàng thượng nhìn Lý Vân:

-Câu hỏi của khanh cũng là câu hỏi của ta suốt đêm qua. Hứa Văn cũng thừa nhận đưa quân vào chiếm đảo để lấy nước lửa cho Bắc triều. Lý Đạt cũng mang tấu của Đội Nhất vào cho ta kể lại tỉ mỉ cuộc chiến giữ đảo. Nhưng sao Bắc triều lại không thừa nhận, lại làm ngược tình thế, coi ta như kẻ cướp ngày và lên tiếng không dung tha? Có ý chi đây? Ta vừa qua đấy, hai bên bang giao hữu hảo, đón tiếp tưng bừng đấy. Có chuyện chi đây? Các khanh nghĩ xem. Đây đã thành việc hệ trọng quốc gia rồi. Ta chưa muốn thiết triều về việc cơ mật này. Các khanh là thân cận ta vời vào bàn trước. Nếu dân tình biết được chuyện dọa dẫm của Bắc triều, e khó cản được lòng phẫn uất, sinh manh động, hoặc nhỡ lại tin lời xằng bậy của Hoàng đế Bắc triều nói quân Đội Nhất ta là bọn thảo khấu, e càng bất an. Các khanh bàn giúp ta việc hệ trọng này, vẫn phải ngăn cản cuộc trừng phạt như cách Bắc triều dọa dẫm, vẫn phải lấy hòa hiếu làm đầu nhưng cũng không được quên việc đặt chủ quyền cương giới lên trên hết. Cái khó là ở đó. Ta suốt đêm không ngủ cũng vì những điều đó.

Thấy chưa ai nói gì, Hoàng thượng lại lên tiếng:

-Các khanh thấy gì cứ nói, nghĩ gì cứ nói, tìm được kế sách gì cứ nói, nghĩ ra mưu lược cũng nói, thấy lòng sợ hãi cũng nói, không vòng vo, không úp mở chi hết.

Lý Vân lên tiếng:

-Bẩm Bệ hạ, theo sách sử nhiều triều của các nước, nguyên cớ chiến tranh, bày trận binh đao có nhiều thứ. Kẻ mạnh thường uy hiếp kẻ yếu. Nước lớn thường xuyên rình rập, xâm lược nước bé. Đã thủ mưu xâm lược ắt phải nghĩ kế sách xuất binh. Vô cớ mà đem quân xâm lược nước khác thì sợ thiên hạ chê cười, trăm họ phỉ nhổ, coi thường. Tìm ra cớ để xua quân xâm lược vốn là kế sách mà không nước nào không áp dụng. Biến đen thành trắng, tráo trở trong bang giao, gắp lửa bỏ tay người, vu oan giáo họa để dựng chuyện, gây binh, ấy là trò không hiếm gặp trong thiên hạ.

Hoàng thượng gật gù tán thưởng:

-Khanh nói phải lắm…

Lý Vân không đắn đo:

-Nếu âm mưu xua quân chiếm đảo Nước Lửa do Hứa Văn chỉ huy mà thắng lợi, cướp được đảo, trấn áp được quân binh của Đội Nhất, thi nhau mang vác nước lửa ấy về quốc gia, phỏng Bắc triều có ra sắc chỉ khiêu khích, dọa dẫm  ấy không? Không. Vì họ đã đạt được mục đích. Chẳng may gặp quân binh ngài Đội Nhất, một lòng một dạ vì cương giới nước Việt, không quản hiểm nguy, không tiếc mạng sống, đồng lòng đồng sức giữ đảo, giết giặc, đập tan mưu đồ ác độc của Bắc triều. Hoàng đế Bắc triều vì thế mà mất thể diện, sợ mất mặt với dân chúng, lại sợ mất mặt với thiên hạ, mất mặt với các nước lân bang nên vội vàng nghĩ ra kế sách vừa ăn cướp vừa la làng, tráo trở hèn hạ, tìm cớ xâm chiếm cương giới biển của nước Việt ta. Nếu thực hiện theo kế của họ là thực hiện được mưu đồ trấn áp nước Việt ngoài biển khơi, sau là thu lợi nhiều của cải quý giá ở đó, một công đôi việc, lại được dịp lớn tiếng lu loa với các nước lân bang về lý do xua quân đánh nước Việt ở cương giới vì nước Việt đang muốn dùng cương giới để trấn áp, cướp bóc thuyền buôn của Bắc triều và các nước qua lại thông thương trên biển. Đã tìm được cớ gây hấn, chiếm đảo, lại được tiếng là dẹp yên phản loạn cướp bóc giữ yên bình ngoài khơi xa, lấy được lòng thiên hạ. Mưu đồ ấy của Bắc triều xin Bệ hạ chớ bỏ qua.

Quan nội cung phân vân bày tỏ:

-Bắc triều lớn mạnh, quân binh, thủy binh đều mạnh hơn ta nhiều lần, nếu cương quyết chiếm đảo là chiếm được. Cương giới xa cách, quân binh, thủy binh của ta còn yếu ớt, liệu có kịp ứng cứu? Lại e được dịp này, trên cương giới biển, trên cương giới đất liền, Bắc triều đồng loạt xua quân liệu nước Việt ta trụ được bao lâu? Tình thế ngàn cân treo sợi tóc, thắng thua trong chớp mắt, mất còn trong tấc gang, xin Bệ hạ thận trọng từng câu từng chữ…

Hoàng thượng nhìn quan nội cung:

-Ý khanh là sao? Là ta phải thân chinh nộp phạt? Là ta phải thân chinh lên tiếng xin nhận tội? Là ta phải…

Quan nội cung vội thưa:

-Bẩm Bệ ha, không phải chuyện đó… Thần nghĩ chi bằng ta bàn với Bắc triều, để hòa thuận hữu hảo đôi bên, tránh binh đao, tránh căng thẳng, giữ yên bờ cõi, chi bằng… chi bằng ta dâng tặng Bắc triều đảo Nước Lửa…

Lý Vân trợn mắt. Lý Đạt chực hét lên. Hoàng thượng nhìn Quan nội cung hồi lâu:

-Ta hiểu lòng khanh trong từng ý, từng lời. Khanh nói vậy cũng lo cho sinh mệnh của cả nước Việt. Đối với thú dữ, để tránh bị cắn xé, có khi phải mất cho nó miếng thịt làm lành.

Quan nội cung cúi đầu:

-Bẩm… Bệ hạ sáng suốt.

-Không- Hoàng thượng đập tay xuống bàn- Trong việc này thì không thể. Lo cho nước nhưng không được hèn. Bảo vệ nước nhưng không nhụt chí. An bình thiên hạ nhưng không được lui. Hữu hảo phải giữ nhưng không được thỏa hiệp.

Quan nội cung tái mét mặt mày:

-Bẩm Bệ hạ, thần nghĩ sao nói thế, xin Bệ hạ tha tội.

Hoàng thượng nói:

-Ta đã nghĩ kỹ. Một mặt kiên trì hòa hiếu với Bắc triều, một mặt trong nước phải chuẩn bị dấy binh ở khắp cương giới để chuẩn bị chống giặc. Ta sai Lý Vân làm sứ, cùng theo Hứa Văn sang Bắc triều. Lý Vân giỏi ăn nói, cứ theo ý chỉ của ta mà ứng xử với Hoàng đế Bắc triều, nhu nhu cương cương, nói thế nào, ứng xử thế nào không phải đổ lửa vào thêm nhưng cũng không mất khí khái cương trực của người Việt.

Lý Vân cúi đầu:

-Bẩm Bệ hạ, thần tuân chỉ.

-Khanh phải nói cho Bắc triều biết rằng, nước Việt không tham của ai, không gây hấn ai, chuộng bình yên, chuộng hòa hiếu, nhưng không chịu bị hà hiếp, bị xâm lược.

-Bẩm Bệ hạ, thần nghe rõ.

-Khanh đi lần này nguy nhiều hơn thuận, cân nhắc từng lời từng ý, cố giữ lấy mình,  đi mà có thể không có đường về, ta mong khanh bảo trọng.

Hoàng thượng nắm lấy tay Lý Vân, lòng muôn phần cảm động và tin tưởng.

Hoàng thượng lại quay sang quan nội cung:

-Ngay lập tức cho đưa Hứa Văn ra khỏi cũi, cho nghỉ ngơi ở cung điện của ta, sai người phục dịch, sai con hát phục dịch, tiếp đón như quan đại thần. Lại sai nội cung nhanh chóng chuẩn bị thuyền bè tốt để đưa Hứa Văn và Lý Vân đây về Bắc triều.

Quan nội cung:

-Bẩm Bệ hạ, thần tuân chỉ.

Hoàng thượng lại nói:

-Ta cho xuất hai cặp ngà voi đẹp, một bộ da hổ đẹp, một số vàng bạc châu báu làm quà tặng Hoàng đế Bắc triều coi như quà bang giao hai nước lâu nay vẫn thế mỗi khi cử sứ thần đi. Mọi việc cứ vậy, không căng thẳng cũng không khinh xuất.

Quan nội cung:

-Bẩm Bệ hạ, thần tuân chỉ.

Hoàng thượng quay sang Lý Đạt:

-Khanh mau mau trở lại cương giới. Cần thêm thuyền ta cho thêm thuyền, cần thủy binh ta cho mang theo, cần lương thảo, đồ đạc, vũ khí cứ tấu trình, ta hết lòng dốc sức.

Lý Đạt cảm kích:

-Bẩm Bệ hạ, thần y lệnh.

Hoàng đế Bắc triều lại sai đưa Tiểu Tiểu và Lý Bật vào cung.

Quan cận thần hỏi:

-Bẩm Bệ hạ, tính ngày, lúc này sắc chỉ của Bệ hạ đã tới Hoàng thượng nước Việt. Thần e giờ này Bệ hạ nước Việt đang vội vàng cử sứ thần sang. Ý Bệ hạ ứng xử thế nào?

Hoàng đế Bắc triều gật gù:

-Ta còn xem họ đối xử với Hứa Văn ra sao nữa. Với ta Hứa Văn phạm trọng tội, đã không nghe lời ta thu quân, ngang nhiên cho đánh chiếm đảo Nước Lửa của nước Việt để rồi thua trận, làm nhục triều đình, nếu ta không khéo tương kế tựu kế, ngụy tạo hiện trường, thay đổi nhanh tình thế, tránh được tiếng xấu lại có cớ để trừng phạt nước Việt, thử hỏi tình hình sẽ ra sao?

Quan cận thần cúi đầu:

-Bệ hạ thực anh minh.

-Danh chính ngôn thuận, nước Việt bé nhỏ cũng là một nước, thế cùng mới phải ra tay, ra tay phải có cớ để trăm họ không oán thán, các nước lân bang ủng hộ, việc nhỏ ấy mà các khanh không hiểu. Cứ như Hứa Văn, thấy miếng ngon thì giật lấy, không biết nhìn trước ngó sau, thiên hạ sẽ khinh bỉ, quay mặt, ta biết ăn nói thế nào? Ta thèm lấy đảo cương giới nước Việt từ rất lâu, lấy được, ta trấn áp nước Việt từ bên ngoài, lại làm chủ biển cả, thuyền bè giao thương các nước qua lại buộc phải nhún nhường, lại khai thác nhiều thứ quý giá. Nhưng không phải cứ muốn mà được, cứ muốn là cướp. Tội Hứa Văn rất lớn, phải phạt. Nhưng công Hứa Văn cũng rất lớn, phải thưởng…

Quan cận thần ngạc nhiên:

-Bẩm Bệ hạ…

-Tội của Hứa Văn là chống lệnh ta, đáng ra phải chém đầu. Công của Hứa Văn là liều mạng gây hấn làm ta có cái cớ chắc chắn để thực hiện việc chiếm đảo của nước Việt mà không bị mang tiếng là xâm lược, cướp mà được tiếng là trấn an bình yên biển đảo cho các nước lân bang, dẹp loạn thảo khấu nước Việt, công đó đáng được thưởng.

-Bẩm Bệ ha, không ai so được tài trí của Bệ hạ.

-Xuất binh lần này phải thắng. Không thắng không về, không cướp được đảo Nước Lửa không về, giữ thể diện cho Bắc triều ta.

Quan cận thần hỏi:

-Bẩm Bệ hạ, chọn ai chỉ huy trận xuất binh này?

Hoàng đế cả cười rồi phẩy tay:

-Cho hai ngươi vào đây.

Tiểu Tiểu và Lý Bật bước vào. Hoàng đế Bắc triều ban cho ngồi, ban cho trà uống, rồi nhìn quan cận thần nói:

-Khanh vừa hỏi ta sẽ cử ai làm chỉ huy trận xuất binh trừng phạt nước Việt tại đảo Nước Lửa, ta nghĩ, không ai hay hơn Lý Bật đây.

Lý Bật ngơ ngác:

-Bẩm Bệ hạ…

Hoàng đế nói:

-Ngươi đã tình nguyện quay lưng với nước Việt ngươi để sang Bắc triều, nay ta phong cho ngươi làm quan đại thần, chỉ huy trận xuất binh trừng phạt nước Việt, chiếm đảo nước Việt, chiếm xong ta cho người làm quan đại thần Chúa đảo, ngươi không muốn sao?

Lý Bật run run:

-Bẩm Bệ hạ, ân sủng của Bệ hạ quá lớn, làm thần không dám tin.

Hoàng đế cười:

-Từ một quan đại thần nước Việt, thành kẻ tội đồ nước Việt, lại được Bắc triều phong làm quan đại thần, lại được cầm quân xuất binh, lịch sử Bắc triều ta e chưa có trường hợp nào như thế.

Quan cận thần tiếp lời:

-Bẩm Bệ hạ, lòng Bệ hạ bao dung như trời biển…

Hoàng đế lại nói:

-Tiểu Tiểu cháu ta sẽ được phong làm đô đốc thủy binh trận chiến này. Ta cần cháu vì cháu đã thông đường đi lối lại trên đảo, sẽ giúp nhiều cho binh sỹ… Nhất nhất mọi việc, cháu phải nghe theo lệnh của Lý Bật.

Tiểu Tiểu:

-Cảm tạ Bệ hạ.

Hoàng đế Bắc triều cười lớn:

-Được rồi, ta cho các ngươi lui.

Đợi cho Tiểu Tiểu và Lý Bật ra, quan cận thần hỏi:

-Bẩm Bệ hạ, việc cử Lý Bật làm chỉ huy trận xuất binh này, thần e…

Hoàng đế Bắc triều nheo mắt nhìn quan cận thần:

-Khanh ở cạnh ta mà ít hiểu ý ta là thế nào?

-Bẩm Bệ hạ, việc này…

-Lý Bật là quan đại thần nước Việt, hắn không phải không có tài, nhưng vì ham danh vọng tiền tài mà chạy sang ta, ta không sử dụng, sau này còn ai bỏ nước mà sang với ta?

-Bẩm Bệ hạ, thần hiểu.

-Ta cho xuất binh chiếm đảo nước Việt, ngoài miệng thì cho lu loa  rằng để trừng phạt người Việt đã dám cướp bóc thuyền buôn, giết chết dân binh, thủy binh của ta, nhưng thực sự là đi cướp cương giới nước Việt. Việc ấy giấu mấy cũng hở. Chi bằng ta cho chính Lý Bật chỉ huy, thắng thì ta có thêm cương giới đảo, nhỡ thua thì đổ vấy cho Lý Bật, do quan nước Việt dấy binh tạo phản. Làm thế hẳn không hay?

Quan cận thần cúi đầu:

-Bệ hạ anh minh. Bệ hạ anh minh.

Hứa Văn tưởng bị chém đầu lại bỗng dưng được ở trong cung điện, chốn lầu son sang trọng, được người hầu kẻ hạ, cơm rượu dâng lên tận miệng, ca nữ đàn hát thâu đêm, gái đẹp kề tay áp ngực thì lấy làm phởn chí. Hắn lại biết sắp được cho về nước. Hắn lại biết còn có sứ thần đưa hắn về tận nơi. Hắn lại biết Hoàng đế Bắc triều có sắc chỉ quở trách Hoàng thượng nước Việt đã gây chiến. Mọi việc thay đổi như lật bàn tay. Đêm đang tối rồi lại sáng. Đời đang nhục lại hóa vinh. Kẻ tội đồ lại thành chính khách. Hứa Văn cả cười, tha hồ ăn chơi, tha hồ xài xể gái đẹp, được mấy ngày sống như vương như tướng.

Ngày lên thuyền về Bắc triều, Hứa Văn đứng ở mũi thuyền, nhìn vào Kinh thành nước Việt, quay sang nói với Lý Vân:

-Thẹn cho nước Việt ngươi, nước yếu thì hèn, thế hèn nên chịu nhục.

Rồi cười ha hả.

Lý Vân không nói gì, đưa sáo lên thổi.

Gió biển thổi như xát muối vào mặt Lý Thắm, mà cũng không biết do gió biển mang hơi muối mặn chát hay chính nước mắt của nàng đang nhòa ướt trên má. Nàng ngồi thu lu, đầu cúi, tóc xõa, im lìm như bụi rau muống biển. Trước mặt nàng là 40 ngôi mộ cát chôn cất thân xác 40 thủy binh đêm qua vừa ngã xuống trước mũi kiếm của giặc. Theo lệnh Đội Nhất, tất cả xác anh em thủy binh đều mang từ đảo Núi Lửa về đảo Vú Cát chôn cất. Khu huyệt mộ được chọn đặt ngay trên đỉnh Vú Cát, nơi cát bằng phẳng, cao ráo, và ở đây có thể phóng tầm mắt nhìn khắp biển cả. Lý Thắm ngồi trước, sau nàng là toàn bộ dân binh, thủy binh, các cô gái trẻ. Trong nắng, trong gió cát, tiếng khóc của họ được gió mang ra biển, được sóng biển xô đẩy về tới đất liền, là nàng hy vọng thế, để đất liền biết được đêm qua, máu đã đổ trên đảo xa cương giới.

Lý Thắm vẫn giữ trên tay mình vốc cát đưa từ đảo Nước Lửa sang, vốc cát thấm đỏ máu của anh em thủy binh. Nàng đặt vốc cát thấm máu ấy xuống trên một mô đất cao, thắp hương. Những nén hương đưa từ đất liền ra từ  tháng trước, tưởng là để phục vụ cho những lần cúng bái thổ thần, nay được dùng hết để thắp hương tiễn biệt người đã khuất.

Những gương mặt của thủy binh, dân binh, của các cô gái khô hanh trong gió cát, đăm đăm nhìn xuống bốn mươi ngôi mộ cát, không ai nói gì hết, chỉ có tiếng khóc âm ỉ chảy dài, vang âm u trong nỗi đau đớn xé ruột.

Đội Nhất đứng trầm ngâm, mắt ráo hoảnh.

Chàng biết đây chưa phải là trận đánh cuối cùng.

Chàng biết rồi trên từng hòn đảo, sẽ còn nữa thân xác của anh em phải ngã xuống vì cương giới. Rồi những trận đánh tới, đến lượt chàng cũng có thể chết. Nhưng điều đó không quan trọng bằng những hòn đảo này vẫn mãi thuộc về nước Việt.

Huệ Hương nhìn đăm đăm vào bốn mươi ngôi mộ, bốn mươi ngôi mộ vun cao trong cát, nằm im lìm trong hương khói. Nàng đã trải qua một cuộc binh đao và giờ thì nàng hiểu, vì sao nàng cần phải vững vàng, vì sao nàng cần phải sẵn sàng cùng các chị em cầm kiếm, cầm cung nỏ để khi cần thì thay thế anh em binh sĩ.

Đất đai tiên tổ ở đâu cũng là đất đai tiên tổ.

Đất đai tiên tổ ở đâu cũng giống nhau, cũng thấm máu mồ hôi và nước mắt của con cháu Việt, dù là hạt phù sa đỏ đồng bằng, bụi đất bạc màu trên núi cao hay bùn lầy sú vẹt ven biển và cát vàng ở đảo xa, ở đâu cũng linh thiêng, cũng mang đậm dấu chân, hồn vía của nhiều thế hệ Việt đã giữ gìn, đã bảo vệ, đã  sống và chết truyền đời như thế.

Đất đai tiên tổ là quê hương bản quán, là nơi cha mẹ đào đất chôn nhau cắt rốn của con cái mình, là nơi để đào bới trồng cây lúa cây khoai, là hơi thở đẫm mồ hôi của ông cha, những giọt mồ hôi ướt đẫm trong nắng rát, trong mưa bão, trong đói khát, trong sự cần mẫn để gieo trồng và thu hái, để nuôi con nuôi cái, hà hơi tiếp sức cho nhiều thế hệ người Việt lớn lên, sinh tồn, bám trụ.

Đất đai tiên tổ làm chứng cho biết bao lớp lớp cháu con, lớn dậy và trưởng thành, quen hơi bén tiếng, yêu nhau, thành vợ thành chồng, sinh con đẻ cái, làm nhà làm cửa, sống trên đất, chết trong đất, niềm vui và nỗi buồn, tất cả đều không rời đất, không xa đất, tất cả quần tụ và quyến luyến với đất đai quê hương, làng xóm, cả nước mắt  nụ cười, cả khao khát và chờ đợi, tất cả đều có đất làm chứng, có đất nâng đỡ, có đất dìu dắt, trong đất là xương cốt của tổ tiên, xương cốt người Việt làm ra đất đai tiên tổ người Việt.

Đất đai tiên tổ là nơi trời đã định, phận đã liệu, từ cương giới đất liền đến nơi biển cả, không xâm chiếm của ai, không giành giật của ai, một hạt bụi cũng là của người Việt, một cây cỏ cũng thuộc về người Việt, đời đời kiếp kiếp như thế, ai chiếm đoạt thì bị trừng phạt, ai phản bội thì phạm trọng tội, trong đất có hồn vía cha ông, có sức mạnh nước non, có lời thề truyền đời giữ đất của các bậc tiền bối, không ai được phép quay lưng trở mặt, lấy sức mà giữ gìn, lấy cả máu ra mà giữ gìn, không thể khác.

Đất đai tiên tổ là nơi chia sẻ, là nơi đón nhận, là nơi ủ ấm những thân xác con cái người Việt đã bỏ mạng vì các cuộc chiến giữ đất giữ nước, sống thì cùng đất làm nên hạt lúa củ khoai, cùng đất rảo bước trên những nẻo đường, cùng đất cười đùa khi hạnh phúc, vục mặt vào đất khi khổ đau, bấu vào đất khi chân yếu tay mềm, tựa vào đất khi trời không yên, biển không lặng, chúi mặt vào đất khi tủi thân, khi buồn bã và cô độc, nằm yên ả trong đất khi nhắm mắt xuôi tay. Sống thì bảo vệ đất đai, chết thì nằm trong đất đai, người Việt mãi là như thế, yêu đất đai và thề chết vì đất đai tiên tổ.

Cuộc chiến chắc chắn chưa dừng lại. Đảo xa, biển rộng, người ít giặc nhiều, rồi ai còn ai mất? Sống hay chết ở đây cũng chỉ để cho thiên hạ biết một điều, đảo này là của người Việt, cương giới này là của người Việt, còn một trăm người cũng đứng lên bảo vệ, còn mười người cũng đứng lên bảo vệ, còn một người cũng đứng lên bảo vệ, không còn ai thì thân xác chôn vùi dưới đảo cũng là nhân chứng, cũng là mốc giới, cũng vẹn nguyên một lời thề giữ đảo.

Nhưng tiếc. Đội Nhất nhìn từng gương mặt các chàng trai, gương mặt các cô gái trẻ đang ngời ngời lên trong nắng, sung sức, ánh mắt long lanh, đẹp quá, những gương mặt người Việt đẹp như thiên thần. Vì sao họ không được yên ổn để sống, để yêu nhau, để sinh con đẻ cái, để làm chồng làm vợ? Vì sao họ lại phải chết trẻ, chết trinh nguyên trong trắng vào cái tuổi như quả trên cây mới chín. Biết là họ chết vì bảo vệ đất đai tiên tổ, nhưng tiếc, quặn lòng vì đau đớn, sôi ruột vì căm thù giặc giã, bàn tay Đội Nhất nắm lấy thanh kiếm mà ước chi có thêm ngàn sức mạnh để có thể quét sạch giặc giã, dồn đuổi chúng tới chân trời, cho cương giới mãi trường tồn yên ổn, không còn thấy cảnh chém giết man rợ, để các trai tráng và thiếu nữ chỉ biết chăm chỉ làm ăn, lo toan cuộc sống, biến đảo thành ấp thành làng, ấm êm hạnh phúc.

Đội Nhất biết lần này Lý Đạt ra, chắc chắn sẽ được Hoàng thượng bổ sung thuyền chiến, bổ sung thủy binh. Đảo Nước Lửa sẽ còn phải tiếp tục giao tranh. Bắc triều là nước lớn, không dễ buông tay sau trận thua đau như vậy.

Sau buổi lễ chôn cất anh em, Đội Nhất đưa toàn bộ quân binh, dân binh về đảo Nước Lửa để bắt đầu việc củng cố hầm hào công sự.

Đảo Vú Cát chỉ còn Lý Thắm và mấy anh em bị thương và một số cô gái ốm yếu.

Số còn lại cùng Đội Nhất lên thuyền, giong buồm về đảo Nước Lửa.

Hoàng đế Bắc triều cho vời Lý Vân vào triều.

Nhìn thấy Lý Vân, thân hình gầy guộc, mặt mày hốc hác, hoàng thượng Bắc triều cả cười:

-Người Việt thiếu ăn hay sao mà đến như người đi sứ cũng gầy gò tòng teo như vậy. Ta nhìn ngươi, thấy lòng thương xót.

Lý Vân đáp:

-Thưa Bệ hạ, thần lấy làm  kiêu hãnh khi vừa qua đây đã được Bệ hạ cho gặp, đường xa, biển lớn, quả là thần không được khỏe. Nhưng trên đường vào cung, dân tình hai bên đường thật đông đúc, nhưng thần không thấy ai béo tốt. Bệ hạ thấy thần gầy yếu đã cảm kích vậy, chắc cả ngàn, cả vạn dân binh Bắc triều gầy gò, thiếu thốn, hẳn Bệ hạ khóc suốt đời mình cũng không hết thương xót.

Bệ hạ cố cười:

-Khanh đối đáp nhanh nhẹn lắm, ta lấy làm hài lòng. Khanh chuyển lời của ta đến Hoàng thượng nước Việt, đã thả Hứa Văn, lại còn cử cả sứ thần thân chinh đưa Hứa Văn về nước, quả là chu đáo.

-Thưa Bệ hạ, thần sẽ chuyển lời.

-Khanh nói ta nghe, có đúng là đói kém thì sinh đạo tặc, sinh trò thảo khấu, cướp bóc?

-Thưa Bệ hạ, lẽ đời vẫn vậy.

-Thế hóa ra vụ việc quân binh đảo Nước Lửa chặn thuyền buôn bán của ta, lại cho người cướp phá, giết người của ta, tội ác man rợ, chẳng lẽ nước Việt của khanh đã tới mức thế cùng miếng ăn phải tổ chức quân đội đi cướp bóc?

Lý Vân cả cười:

-Bệ hạ nói hay lắm. Thần từng nghe, Bệ hạ là người anh minh, sử sách thông thuộc, tấm lòng bao dung khôn tả. Nhưng Bệ hạ lại quá cao siêu, ở xa đời, ở xa thế thời.  Nên e vì thế mà đôi khi ở cao quá lại dễ nghe lời xằng bậy, ngồi kín quá dễ nghe trò xỏ xiên, bao dung quá dễ chứa chấp kẻ dại khờ ngu xuẩn…

-Khanh nói vậy có ý gì?

-Nước Việt nhỏ bé, người ít, thuyền bè ít, quân binh thủy binh đâu dám so với Bắc triều. Nhìn lại sử sách, toàn thấy Bắc triều qua nước Việt xâm lấn, chưa lần nào ghi người Việt qua xâm lấn Bắc triều. Lại nói chuyện cướp bóc, thảo khấu, nếu là thuyền buôm của Bắc triều, biển rộng, đường rộng, cứ thế đi, sao lại xua quân xua người lên đảo Nước Lửa? Lại nghe nói trên đảo Nước Lửa có thứ nước lửa, quân binh Bắc triều mang cả trăm thùng gỗ, ngàn thùng gỗ lên đấy những mong hút nước lửa mang về? Chứng cớ rành rành, lời khai của đại thần Hứa Văn ràng rành, sao Bệ hạ lại có thể nói quân binh nước Việt chặn thuyền cướp phá?

-Khanh nghe ai lại dám chống lại lập luận của ta?

-Bẩm Bệ hạ, Bệ hạ tin đại thần Hứa Văn hay tin thần?

-Việc này…

-Thần dám hỏi vậy vì nước Việt đang cưu mang một thủy binh của Bệ hạ, người này ở trên con thuyền mang chiếu chỉ của Bệ hạ yêu cầu đoàn thuyền của Hứa Văn lui binh, chưa đánh chiếm đảo Nước Lửa vội. Thế tức là đoàn thuyền buôn ấy hóa ra không phải thuyền buôn. Đoàn thuyền buôn ấy lại xuất bến theo sắc chỉ Bệ hạ là để cướp đảo người Việt. Có thể Bệ hạ chưa thấy việc xuất binh là lợi nên ra sắc chỉ lui binh, nhưng Hứa Văn vì tham lợi riêng, đã chém giết người Bệ hạ trên thuyền, đơn phương xâm chiếm đảo Nước Lửa. Bệ hạ cử người mang sắc chỉ đi mà họ sống chết thế nào Bệ hạ cũng không rành, lại để Hứa Văn bất tôn thánh chỉ, tự ý làm càn, giờ lại theo lời quân sĩ dựng chuyện người Việt cướp bóc, uy nghiêm như Bệ hạ, chẳng lẽ không biết đâu trái, đâu phải, đâu chính, đâu tà?

Hoàng thượng Bắc triều cả giận:

-Ta sẽ lấy đầu ngươi. Làm gì có chuyện chiếu chỉ của ta cho đoàn thuyền của Hứa văn lui quân. Làm gì có chuyện ta ra sắc chỉ đưa quân sỹ đi cướp đảo nước Việt. Ngươi chỉ là sứ thần, lại dám vu oan giáo họa, lại dám tung lời xách mé, làm nhục triều đình, làm nhục Hoàng đế Bắc triều, ngươi đáng tội chết ba lần không xứng.

Lý Vân im lặng, từ từ đưa ra tờ chiếu chỉ, cung kính:

-Xin Bệ hạ ngự lãm.

Chỉ liếc mắt, hoàng thượng Bắc triều đã biết vì sao Lý Vân lại cứng cỏi đến thế.

Hoàng thượng cả cười:

-Khá khen ngươi xứng với sứ thần nước Việt, lúc nào cũng cứng cỏi, không coi cái chết làm sợ, nói là nói, không vụ lợi cũng không né tránh, ta lấy làm cảm kích. Ta sẽ ban thưởng.

Lý Vân nói:

-Thưa Bệ hạ. Nói thật, đưa ra chứng cứ thật để mong được ban thưởng, e không phải cốt cách quân tử.

Hoàng thượng hỏi:

-Vậy ngươi muốn gì?

Lý Vân nói:

-Thưa Bệ hạ, cái thần muốn thì đã có rồi, đó là cương giới đảo của nước Việt đã ghi dấu trong bản đồ nước Việt, nhiều triều Hoàng đế Bắc triều cũng đã tự xác tín, vậy nên, để êm ấm bang giao, từ nay khỏi bàn đến chuyện tranh chấp, tránh hiểu lầm, tránh binh đao, những mong Bệ hạ lần nữa xác tín chủ quyền cương giới cho người Việt.

Hoàng thượng lúng túng nhưng làm bộ nổi cáu:

-Ngươi chỉ là sứ thần, đâu ngang bậc đế vương mà đòi hỏi những điều như vậy?

Lý Vân nói:

-Thưa Bệ hạ, những đòi hỏi các nước lân bang phải công nhận cương giới của nước Việt thì không chỉ Hoàng thượng của nước Việt mới có quyền nói, mà mỗi thần dân nước Việt đều có quyền nói, đó là lẽ thường thưa Bệ hạ.

Hoàng thượng nhìn Lý Vân hồi lâu:

-Ta có nghe, nhà ngươi xuất thân từ nho sĩ?

-Thưa Bệ hạ, đúng thế.

-Nho sĩ thì chỉ giỏi chữ, lấy chữ làm vui thú, ta có thể ban cho ngươi đủ tiền bạc, đủ sung sướng để ngươi sống, cả đời vui ca, ngâm nga chữ nghĩa, việc cương giới ngươi đừng nên bận tâm…

-Thưa Bệ hạ, chữ phải viết ra từ ruột gan mình, từ máu thịt mình, từ lòng tự trọng của mình, từ tình yêu đất nước tổ tiên mình,  nếu vì cơ hội để nhận sự no đủ, sung sướng rồi dùng chữ mà ca ngợi kẻ vong ân bội nghĩa, ca ngợi kẻ bỏ bê việc nước, phản bội tổ tiên, thì e chữ ấy là chữ của kẻ mang thân phận như lũ cẩu, suốt đời chỉ biết cắm mõm vào thức ăn bố thí để sủa lên, tru lên, rặn thành những lời gian trá, bóp méo sự thật, xưng tụng và bợ đỡ cho lũ quan quyền ăn trên ngồi tróc, bán nước vong thân, những kẻ viết ra loại chữ ấy đất Việt không dung thân thưa Bệ hạ.

Hoàng thượng im lặng, ngẫm nghĩ rồi lại nói:

-Người tài cao, trí rộng, nếu ngươi chịu phụng sự cho Bắc triều, lòng ta đang thực sự mến mộ và xin được chiêu hiền đãi sĩ. Nước Việt bé nhỏ, dân trí thấp kém, ngươi ở đó phụng sự phỏng làm thui chột trí lực, phí hoài năng khiếu?

Lý Vân đứng lên:

-Thưa Bệ hạ, cây có đất mới bén rễ, người có tổ tiên mới trưởng thành, chữ có cốt cách mới nên vần điệu, thần là con dân nước Việt, chữ của thần, trí của thần là nhờ nước Việt mà nên, không thể mang chữ đi buôn bán thụ hưởng cho riêng mình. Người vô đạo thì thất đức, kẻ vong ơn thì trí hèn, thần không phải hạng đó.

Hoàng thượng lớn tiếng:

-Ta có quyền nhốt ngươi trong ngục tối, ta có quyền định đoạt mạng sống của ngươi nếu ngươi chống ta.

Lý Vân nhã nhặn:

-Thưa Bệ hạ, Bệ hạ nói đúng lắm. Thần chỉ là kẻ nho sĩ, chân yếu tay mềm, cầm cây kiếm cây đao còn chưa vững, mang thân đi sứ, mạng sống nằm trong tay Bệ hạ. Bệ hạ có thể chém thần, có thể giam cầm, nhưng chỉ xin Bệ hạ nhớ cho rõ ràng, thần qua đây là mang ý chỉ của Hoàng thượng nước Việt, cũng là lời của người dân Việt, cương giới nước Việt là của nước Việt, điều đó là không thay đổi, điều đó là không ai cưỡng đoạt được. Người Việt yêu chuộng hòa hiếu nhưng khi cần thì dù đầu rơi máu đổ cũng đổ ở cương giới để giữ đất đai tiên tổ. Nếu các nước lân bang cậy thế, cậy lực mà cướp đoạt đất đai người Việt thì đời này, đời sau, kiếp sau, người Việt cũng thề lấy lại. Thần đã nói hết. Mạng thần đây, Bệ hạ nếu thả thì thần sống, nếu chém thì thần chết, không còn gì phải ân hận.

Hoàng thượng Bắc triều phẩy tay.

Lý Vân lui ra.

Quan nội cung bước lại:

-Bẩm Bệ hạ…

Hoàng thượng quắc mắt lên:

-Gọi Hứa Văn cho ta.

 Hứa Văn giật thột khi được tin Hoàng thượng triệu vào cung. Gặp Lý Vân ở hành lang chính điện, Hứa Văn kéo tay Lý Vân lại:

-Ngài không làm cho Hoàng thượng của ta nổi giận đấy chứ?

Lý Vân vờ ngạc nhiên:

-Sao ngài hỏi vậy?

Hứa Văn lúng túng:

-Là vì… Thực ra ta đang rất hoảng sợ khi nghe Hoàng thượng gọi vào điện. Ta biết tội của ta nhưng hy vọng vì việc lớn hơn, Hoàng thượng sẽ tha thứ…

Lý Vân thăm dò:

-Ngài nghĩ, vì kế hoạch chuẩn bị xuất binh lần nữa để chiếm đảo của nước Việt mà Hoàng thượng sẽ tha thứ tội bất y lệnh của ngài?

-Ngài biết cả việc đó? Chẳng lẽ Hoàng thượng lại có thể thông báo cho sứ thần nước Việt biết cả việc cơ mật?

-Thế thì sao?

-Thế thì chỉ có một cách hiểu là ngài đang chịu phụng sự Bắc triều như Lý Bật.

-Như Lý Bật?

-Đúng thế… Lý Bật đã được Hoàng thượng thăng làm quan đại thần chỉ huy việc xuất binh lần nay… Là ta nghe nói vậy…

Lý Vân thoáng cau mặt nhưng lại xởi lởi:

-Ta không có cái vinh hạnh ấy. Ta chỉ là kẻ nho sĩ, chữ nghĩa nhiều mà gan bé, tay yếu, phỏng có ích gì cho việc quân cơ của Hoàng thượng Bắc triều…

Hứa Văn hạ giọng:

-Hoàng thượng có quở trách ta không?

Lý Vân cả cười:

-Ngài muốn biết thì giờ vào gặp Hoàng thượng sẽ biết, cần gì hỏi ta…

Lý Vân bước thẳng. Hứa Văn nhìn theo một lúc rồi vội vội vàng vàng chạy vào nội điện.

Lý Vân gặp quan cận thần xin được gặp Lý Bật. Quan cận thần sau chút đắn đo rồi đồng ý.

Lý Bật ngồi với Lý Vân tại phòng trà trong nội cung.

Lý Vân chắp tay ra chiều cung kính:

-Bẩm Đại quan Lý Bật… Xin một lạy chúc mừng ngài được lòng Hoàng thượng Bắc triều.

Lý Bật lúng túng:

-Hoàng thượng đã nói với khanh?

Lý Vân nói:

-Thiên hạ đang đồn lên khắp nơi, cần gì Hoàng thượng phải nói. Một kẻ mang tội chết vì phản loạn của nước Việt, nay lại được phong làm quan đại thần Bắc triều, việc này thiên hạ nghe được e không thể không nhếch mép cười khẩy khinh bỉ.

Lý Bật im lặng.

Lý Vân hỏi:

-Giờ ngài đã là quan đại thần Bắc triều, ngài không phải lo bị nước Việt trị tội, thánh chỉ về tội lỗi của ngài do Hoàng thượng nước Việt ban ra giờ chẳng có ích gì nữa..

Lý Bật vẫn im lặng.

Lý Vân lại nói:

-Ta e thân ngài thì yên bề nhưng cha mẹ, vợ con ngài ở nước Việt chẳng lẽ ngài đang tâm nhìn họ bị trị tội tru di tam tộc…

Lý Bật ấp úng:

-Ngài nói vậy là có ý gì?

Lý Vân nói:

-Ngài không nghĩ tới việc xin Hoàng thượng Bắc triều cho cha mẹ của ngài sang Bắc triều, giữ được mạng sống của bậc sinh thành?

Lý Bật cầm tay Lý Vân:

-Đa tạ… Đa tạ… Đa tạ…

Lý Bật vội vã chia tay Lý Vân, vội vã vào triều gặp Quan cận thần.

Hoàng thượng Bắc triều ngắm nghía Hứa Văn từ đầu tới chân, đoạn hỏi:

-Ta không để khanh phải thua kém tiền bạc, thua kém vinh hoa phú quý, nhỉ?

Hứa Văn run lẩy bẩy:

-Bẩm Bệ hạ, thần mang ơn mưa móc của Bệ hạ, suốt đời không trả được

-Khanh trả rồi…

-Bẩm Bệ hạ…

-Khanh trả cho ta sự nhục nhã… Hành động tham lam, bất minh, ngông cuồng dám chống lệnh của khanh khiến sứ thần nước Việt nhân cơ hội đó mắng ta như mắng con chó…

-Bẩm Bệ hạ…

-Đường đường ta là  Hoàng đế nước lớn mà phải nuốt hận nghe thằng nhãi nho sĩ ấy nói càn, chửi rủa, khích kháy mà cứng họng.  Nó mang sang đây cả thánh chỉ của ta cho ngươi lui quân. Tệ hại. Đáng xấu hổ. Khanh nhìn đi, đúng không?

Hứa Văn hoa mắt khi nhìn sắc chỉ lui quân nhuốm đỏ cả máu. Tiếng Bệ hạ ghìm xuống:

-Nếu ngươi tham lam thế, ham hố thế, lại mang cả gan trời trong người chống lệnh ta, thì giết hết, giết hết, sao lại sơ sẩy để lọt một thằng cầm thánh chỉ, để nó trôi dạt vào tay nước Việt, làm lộ hết mọi chuyện. Để một nước bé như nước Việt, lấy được chứng cứ, xỏ mũi ta như thế, khanh thấy tội khanh đáng khép vào tội gì?

Hứa Văn nhả giọng con buôn:

-Bệ hạ giận thần, nhưng Bệ hạ hỏi vậy là Bệ hạ không muốn giết thần. Đã không muốn giết thần thì thần xin Bệ hạ mở đường cho thần lập công chuộc tội vậy.

Hoàng thượng cho vời cả quan cận thần vào.

Hoàng thượng nói:

-Các khanh thấy cần phải đối xử với Lý Vân, sứ thần nước Việt thế nào?

Quan cận thần:

-Hắn ỷ vào một vài bằng chứng, bắt chẹt Bệ hạ, lỗ mãng với Bệ hạ, coi thường Bệ hạ, tội ấy không chỉ có giết mà phải voi giày mới hả giận triều đình ta.

Hứa Văn nói:

-Lý Vân kinh thông sử sách, cái gì cũng biết, lý lẽ chặt chẽ, là cái miệng của Hoàng thượng nước Việt với các nước lân bang, với thiên hạ, cắt cái lưỡi của Lý Vân như là cắt được lưỡi của Hoàng thượng nước Việt vậy thưa Bệ hạ.

Hoàng thượng Bắc triều cau mặt:

-Các khanh chỉ nói được vậy thôi sao?

Quan đại thần và Hứa Văn nhìn nhau chột dạ.

-Bắc triều ta, có ai được như Lý Vân?

Quan đại thần và Hứa Văn lại nhìn nhau.

Quan đại thần đánh liều trả lời:

-So sánh thì rất khó. Nhưng xem ra, nếu đối đáp được, triều đình ta e chỉ ngài Hứa Văn đây mới có bản lĩnh mặt giáp mặt với Lý Vân.

Hoàng thượng nhếch mép cười:

-Hứa Văn. Khanh thấy sao? Khanh vừa nói với ta, xin lập công chuộc tội.

Hứa Văn cúi đầu:

-Như thần nói, chỉ có cách cắt lưỡi Lý Vân thưa Bệ hạ.

Hoàng thượng nổi giận:

-Bất lực về trí mà giết người giỏi là hạ sách. Lấy trí người giỏi làm lợi cho ta là thượng sách. Các khanh hiểu ý ta chứ?

Quan đại thần:

-Bẩm Bệ hạ, việc này…

Hứa Văn liến láu:

-Bẩm Bệ hạ… lấy lưỡi Lý Vân chắp vào lưỡi ta để có lợi cho ta, chắc ý Bệ hạ muốn thế?

Hoàng thượng nhìn Hứa Văn:

-Khanh nói ta nghe…

Hứa Văn lúng túng:

-Bẩm Bệ hạ, việc này…

-Việc này…Việc này…Việc này là thế nào?-Hoàng thượng lớn tiếng quát.

Rồi Hoàng thượng hạ giọng:

-Bắc triều ta không thể nói là không kiếm được ai giỏi như Lý Vân, giỏi hơn Lý Vân, nho sĩ nước ta thiên hạ đều ngưỡng mộ… Nhưng đây là việc cơ mật, các khanh phải nhận lấy…

Hứa Văn cúi đầu:

-Bẩm Bệ hạ, thần là cận thần của Bệ hạ, mang ơn mưa móc của Bệ hạ, Bệ hạ nói chết thần chết. Nhưng thân phận của thần chỉ là con buôn, giỏi buôn, giỏi mánh lới, mà đã là con buôn thì chỉ giỏi lừa gạt, miệng lưỡi thần có thể lấy tiền thiên hạ mà không tốn sức, tốn của, còn nếu Bệ hạ bảo thần dùng trí chọi trí e thần bất thành, lại làm xấu mặt triều đình, làm Bệ hạ lại bất an, có  hại đến ngọc thể mà thôi…

Hoàng thượng vỗ đùi:

-Nói hay lắm… Ta cần chính cái điều khanh tự nhận… Ta cần như thế…

Quan cận thần vội vàng nói vào:

-Bẩm Bệ hạ, xin Bệ hạ nghe rõ lời của Hứa Văn… Ngài Hứa Văn chỉ dám nhận mình là một con buôn, giỏi mánh lới, giỏi lường gạt…

Hứa Văn cúi đầu:

-Bẩm Bệ hạ, đúng vậy, đúng vậy….

Hoàng thượng cười lớn:

-Ta nghe rõ chứ… ta nghe rõ lắm… vì thế ta mới cho gọi Hứa Văn vào…

Quan cận thần và Hứa Văn im lặng.

Hoàng thượng nói nhỏ:

-Việc xuất binh chiếm đảo Nước Lửa, chiếm hết các đảo khác của nước Việt là việc bất đắc dĩ phải làm. Các khanh nên nhớ như vậy. Là việc bất đắc dĩ. Bắc triều ta vốn đã bị thiên hạ ca thán vì các triều hoàng đế trước ta cứ xua quân đi cướp đất các nước lân bang, cướp đất nước Việt. Nhưng đó vẫn là việc bất đắc dĩ phải làm. Ta lại muốn có đảo nước Việt mà không phải xảy ra binh đao, không mang tiếng cướp, không phải bất đắc dĩ xuất binh. Muốn thế thì phải dùng trí, phải dùng chứng, phải dùng mánh lới, hiểu không?

Nhìn quan cận thần và Hứa Văn im lặng, Hoàng thượng nói tiếp:

-Việc của Bắc triều ta là phải cho thiên hạ biết đảo Nước Lửa và các đảo khác ở cương giới nước Việt đều là của Bắc triều, không phải của nước Việt.

Nếu ta làm được thế, hoặc ép thiên hạ tin như thế, thì không cần đánh cũng có, không cần binh đao vẫn có, không cần chiếm cũng có, nước Việt phải trả lại đảo cho Bắc triều. Làm được thế, ta dùng các nước lân bang hùa theo ta, ép nước Việt phải giao trả đảo cương giới cho ta, giao trả mà tâm phục khẩu phục, thế mới gọi là đánh bằng trí. Mà muốn đánh bằng trí thì phải khuất phục kẻ có trí của nước Việt, là Lý Vân.

Hứa Văn há hốc mồm:

-Đảo cương giới nước Việt là của Bắc triều ta?

-Đúng vậy- Hoàng thượng gật đầu.

Quan cận thần cũng ngỡ ngàng:

-Bẩm Bệ hạ, nghĩa là lịch sử ngàn năm nay chứng minh, các đảo đang thuộc cương giới nước Việt thực ra thuộc về Bắc triều, thuộc về tổ tiên nước ta?

-Đúng vậy- Hoàng thượng lại gật đầu.

Hứa Văn ấp úng:

-Bẩm Bệ hạ, hình như Bệ hạ không được khỏe, ngọc thể bất an, xin Bệ hạ nghỉ ngơi…

Hoàng thượng ngạc nhiên:

-Ý khanh là…

Quan cận thần:

-Xin Bệ hạ cho thần được nói thật… Xin Bệ hạ tha tội chết nếu thần nói thật..

-Khanh cứ nói, ta cho phép…

Quan cận thần nuốt nước bọt, khó nhọc lắm mới buông mấy lời:

-Bẩm Bệ hạ… Nếu nói như Bệ hạ, thần e thiên hạ cho rằng triều đình ta chắc đang điên cuồng, hay chí ít thì cũng quá ngu ngốc mà nói xằng nói bậy…

Hoàng thượng đập bàn:

-Là khanh…

Quan cận thần lùi một bước:

-Sử sách Bắc triều ta ngàn năm nay không đả động gì đến cương giới đảo ấy, nhất nhất đều ghi đó là của người Việt. Nay bỗng dưng ta lại nói đảo ấy là của ta, dễ bị thiên hạ chê cười, cho ta đã nước lớn mà cuồng, ỷ vào nước lớn mà ép, dựa vào thế mạnh mà càn quấy, tiếng tăm xấu xa như thế phỏng có ích gì.

Hứa Văn cũng đỡ thêm lời cho quan cận thần:

-Bẩm Bệ hạ, cả đời thần đi lại buôn bán trên biển, đi trên biển thì phải có bản đồ, có sơ đồ, từ cổ chí kim ở nước ta đều ghi chú dãy đảo ấy là của nước Việt, giờ ta lại nói của ta thì e không ai tin, người ta không tin thì sinh ngờ, đã sinh ngờ thì sinh căm ghét, khinh bỉ, xin Bệ hạ xem xét lại.

Hoàng thượng bực bội đứng dậy, đi lại mấy vòng quanh bệ rồng rồi lại ngồi xuống, hạ giọng:

-Ta biết các khanh nói thật. Nhưng nếu ta nói với các khanh, ta có chứng cứ khẳng định đảo ấy là của Bắc triều thì các khanh cãi được không?

Quan cận thần và Hứa Văn nhìn nhau.

Hoàng thượng nói:

-Ta nói rằng, trên đảo Núi Lửa, vốn là nơi thần dân của Bắc triều cả ngàn năm qua đã sinh sống, đã để lại trong lòng đảo, dưới cát sâu nào cung tên, nào vật dụng có từ thời xa xưa, từ nhiều đời, các khanh cãi được không?

Rồi Hoàng thượng cười ha hả.

Hứa Văn chột dạ nhớ lại chuyến thuyền chở Lý Bật ra đảo nước lửa, Hoàng thượng đã cho chở theo rất nhiều vật dụng, gươm giáo có từ thời xa xưa, cách đến cả mấy trăm năm, vả ngàn năm trước, lúc đó Hứa Văn còn không hiểu để làm gì. Nay thì nghe Hoàng thượng khảng khái nói vậy, Hứa Văn tâm phục khẩu phục, không còn gì để kính nể hơn nữa.

-Khanh chắc đã biết ý ta?-Hoàng thượng hỏi Hứa Văn.

Hứa Văn cả cười:

-Bẩm Bệ hạ, thần hiểu rồi… Hèn chi Bệ hạ muốn sai khiến thần…

Hoàng thượng gật đầu:

-Ta sẽ cho một chiếc thuyền tốt, mời thêm sứ thần của nước Việt, mời thêm  sứ thần các nước lân bang, cung phụng ăn uống thả sức, quà cáp không tiếc, đưa họ ra đảo Nước Lửa để họ biết rằng, đảo Nước Lửa là của Bắc triều.

Hứa Văn cúi đầu:

-Thần lĩnh chỉ.

Hoàng thượng lại nói:

-Đi cùng Lý Vân, khanh phải biết khanh là con buôn, miệng lưỡi phải miệng lưỡi con buôn, lắt léo, mánh lới, lấy lừa gạt làm chủ ý, dù có bị chửi mắng, dù có bị khích bác thì mặt phải dày, miệng phải cười, không được kích động, cứ theo cái lý buôn bán mánh lới mà lập luận, khiến sao cho lưỡi Lý Vân phải cứng lại, miệng Lý Vân phải há hốc ra mà cùng sứ thần các nước lân bang đặt bút ký vào tấu trình gửi cho ta, gửi cho nước Việt xác tín đảo Nước Lửa là của Bắc triều. Làm được thế ta ban thưởng. Không làm được thế ta chém.

Hứa Văn run rẩy:

-Bẩm Bệ hạ, thần lĩnh chỉ.

Hoàng thượng nhìn sang quan cận thần:

-Một mặt ta lấy cái lý ra khẳng định chủ quyền, kéo đảo Nước Lửa về ta, một mặt cho chuẩn bị thuyền chiến, thủy binh, vũ khí, cung nỏ, chuẩn bị đội quân hùng hậu, cần thì xuất binh.

Quan cận thần:

-Bẩm Bệ hạ, thần lĩnh chỉ.

Hoàng thượng nói tiếp:

-Mau mau cho người mang thư của ta về cho Hoàng thượng nước Việt, kẻ đưa thư khi cần đi ngựa thì dùng ngựa, khi cần đi thuyền thì xuống thuyền, chạy ngày, chạy đêm, ta muốn Hoàng thượng nước Việt nhận được thư của ta càng sớm càng tốt.

-Bẩm Bệ hạ, tuân chỉ.

-Ngày mai, ta muốn thết đãi sứ thần nước Việt là Lý Vân cùng sứ thần các nước lân bang để chuẩn bị cho chuyến đi ra đảo Nước Lửa.

-Thần tuân chỉ.

Hoàng thượng ngả người sau long sàng, lim dim mắt, nói như tự nói một mình:

-Lão Tử nói: “Tri túc, tri chỉ”, biết đủ, biết dừng, biết đủ là đủ. Lão Tử dạy thế đúng hay sai hỡi các khanh? Đúng hay sai? Sai! Sai! Sai! Biết đủ không phải là cái lý của người Bắc triều ta. Biết đủ không phải là cái cần của Bắc triều ta. Biết đủ không phải là điều nên làm của người Bắc triều ta. Nay ta muốn sửa lời Lão Tử, ban cho thiên hạ câu này: Muốn biết đủ thì phải biết là chưa đủ. Hảo a?

Ngông cuồng- Hoàng thượng nước Việt giận dữ lên tiếng sau khi đọc xong thư của Hoàng đế Bắc triều- Các khanh nghĩ xem, Hoàng đế Bắc triều lại còn viết rằng, có nhiều chứng cứ để khẳng định đảo Núi Lửa là của Bắc triều, không phải của nước Việt. Lại còn chuẩn bị đưa thuyền ra đó, mời sứ thần các nước theo để minh chứng, mời cả Lý Vân đi cùng để minh chứng. Đúng là ngông cuồng.

Các quan đại thần nhìn nhau.

Quan nội cung nhã nhặn:

-Bẩm Bệ hạ… Bắc triều xuất binh một lần, thua đau, nay chưa tính tới việc xuất binh chiếm đảo lại tính tới chuyện dùng chứng cứ để xác định chủ quyền cương giới là có ý gì? Chứng cứ là gì? Sao lâu nay không nói gì, sử sách hai nước rành rành ghi rõ là cương giới Việt, từ khi phát hiện thấy nước lửa thì sinh tham lam, bày đặt đủ trò cướp đảo, xin Bệ hạ chọn lựa phương cách khôn khéo để xử lý.

Hoàng thượng cố ghìm cơn giận dữ, phân tích:

-Lục lại sử sách, Bắc triều vốn thế, không chỉ muốn cưỡng đoạt cương giới nước Việt ta mà còn muốn ôm mộng cưỡng đoạt hết các nước lân bang. Nước lớn mà tham thì sinh ác mộng. Dùng quân binh không được thì nay họ dùng mưu lược. Ta chỉ còn phải chờ đợi tài khôn khéo của Lý Vân, ở đây xa xôi, liệu bàn tính được gì đây?

Quan đại thần phụ trách việc quân cơ thưa:

-Bẩm Bệ hạ, một mặt ta phải tin tưởng và chờ đợi tài xử thế của Lý Vân, một mặt xin Bệ hạ xuống chỉ cho trăm họ chuẩn bị nghênh chiến bọn Bắc triều cả trên bộ, cả trên biển. Ông bà ta có câu, chó dại cắn càn, không ăn thì đạp đổ, xin Bệ hạ cảnh giác và khôn khéo.

-Khanh nói phải. Ta vẫn phải cương quyết giữ đất đai cương giới, nhưng cương thì cương đến cùng nhưng nhu thì cũng phải nhu, kiên nhẫn giữ hòa hiếu với họ, nếu thế cùng không giữ được hòa hiếu thì ba quân phải sống chết vì nước Việt. Nay ta cần thảo một lá thư gửi lại Hoàng đế Bắc triều, trong các khanh, ai sẽ chấp bút?

Quân nội cung nói:

-Bẩm Bệ hạ. Ngoài Lý Vân, không ai làm được việc đó. Nay ta sai quan nội cung nhanh chóng lên đường sang gặp Lý Vân, mang theo khống chỉ dấu thư, dấu tên Bệ hạ, nói Lý Vân phải thảo lá thư, mạnh mẽ về ý chí, nhũn nhặn về quan hệ, gửi tới Hoàng đế Bắc triều.

Hoàng thượng nói:

-Ta phê chuẩn.

Đêm ấy, Lý Vân không ngủ được. Dồn dập quá nhiều thông tin bất lợi cho nước Việt. Nào là Lý Bật lại được Bắc triều phong làm đại quan, lại giao chỉ huy thuyền chiến chiếm đảo, là dùng kế người Việt đi xâm lược người Việt, nếu thắng thì Bắc triều được, nếu thua thì nước Việt mang tiếng nồi da xáo thịt, thật quá thâm hiểm. Lại nghe Hoàng đế Bắc triều sắp mở tiệc tiếp sứ thần các nước lân bang, rồi lại mời ra đảo Nước Lửa, xem chứng cứ việc đảo Nước Lửa ngàn năm qua là của Bắc triều, của người Bắc triều, mang dấu vết sinh tồn của người Bắc triều, không phải của nước Việt. Lại có thư Hoàng đế Bắc triều gửi Hoàng thượng nước Việt khẳng định chủ quyền về đảo Nước Lửa.. Tình hình rối rắm. Thông tin đứt rời. Địa lý xa cách. Hoàng thượng ở xa không biết hỏi ai. Bây giờ Lý Vân phải gánh, sống chết ở từng câu từng chữ, cương giới đảo của nước Việt giờ này mất còn cũng tùy thuộc vào từng câu từng chữ của Lý Vân này. Lại làm sao thu phục được nhân tâm, lôi kéo sứ thần các nước theo cái lý của mình, vạch rõ thâm hiểm của Bắc triều, những trò mánh lới, buôn bán xảo trá. Lại còn Lý Bật. Làm sao để Lý Bật có thể quay đầu vào bờ, làm quan Bắc triều nhưng lòng dạ phải tiếp tục trung thần với Hoàng thượng nước Việt. Từng khắc giờ đi qua là nguy hiểm tới gần, vận nước đang giục, cương giới đang lâm nguy, Lý Vân ta nhỏ bé và cô đơn nơi đất khách quê người, toan tính, quyết đoán, suy nghĩ tất cả chỉ một mình ta trong đêm trường nơi xứ lạnh.

Bất ngờ có tiếng gõ cửa.

Lý Vân châm to ngọn đèn.

Lý Bật bước vào.

Nhác thấy gương mặt Lý Bật hốc hác, chắc cũng không ăn không ngủ được, Lý Vân dâng trà, ân cần:

-Chẳng hay ngài có chuyện chi bất an?

Lý Bật gãi đầu:

-Bất an… Bất an quá…

-Ngài cứ nói. Dù lúc này ta và ngài, hai người đã là người của hai nước, nhưng ta tin, trong huyết thống ngài, máu nước Việt vẫn chảy, lòng tự trọng của người Việt vẫn còn dâng trào, quê hương, gốc gác người Việt trong ngài vẫn không nguôi ngoai, vợ con, cha mẹ, họ hàng của ngài ở quê hương vẫn làm ngài day dứt…

Lý Bật rít một hơi thuốc, phả khói chầm chậm, nói như tiếng nức nở:

-Chỉ có Lý Vân ngài mời thực sự hiểu ta. Ta giờ chỉ đáng là thân chó bỏ chủ, chạy sang quấn chân chủ khác, tưởng được yêu chiều, nào hay, thân chó lại còn hơn thân chó.

Lý Vân nhích người lại gần:

-Ngài có chuyện chi cứ nói. Lý Vân ta xuất thân từ nho sĩ, dù biết mình tài hèn sức mọn, trí lực bé nhỏ nhưng cũng có thể chia sẻ với ngài đôi điều tâm sự… Ngài cứ nói…

Lý Bật vuốt mặt, thở dài:

-Ta ham hố nên sinh cuồng, háo danh quá nên sinh ngu ngốc. Đời người tiền bạc thì rất cần nhưng sống được bao năm mà ham hố? Danh phận quý giá nhưng nếu không tận tụy thì người đời e cũng khinh rẻ nếu sau này từ quan về làm dân. Nhưng con người dễ cuồng, dễ tham, dễ ngu, dễ phản bội. Ta cũng thế. Chốc lát thành kẻ vong ân bội nghĩa, quay lưng với tổ tiên, làm thân chó ngựa nước người. Tưởng lên được đại quan e có thể ăn ngon ngủ yên, e có thể công thành danh toại, nào hay cũng phận chó sủa theo chủ…

Lý Bật im lặng hồi lâu, nói tiếp:

-Trước mắt quan quân triều đình Bắc triều, ta vẫn là kẻ đã bỏ nước Việt mà qua, kẻ đã phản bội một lần thì thiên hạ có thể suy ra còn phản bội lần nữa. Ta tấu trình lên Hoàng thượng Bắc triều xin Người hãy liên hệ với nước Việt, cho cha mẹ, vợ con ta qua đây, nguyện vọng ấy nào có lớn lao chi, thế mà Hoàng thượng Bắc triều nói một câu làm ta đau đớn…

Lý Vân:

-Đó là câu gì vậy?

-Hoàng thượng nghe xong lời thỉnh cầu của ta, hỏi, nay khanh muốn đưa cha mẹ vợ con của khanh sang, mai khanh đưa họ hàng sang, mai nữa khanh đưa nốt Hoàng thượng của khanh qua đi. Bắc triều ta không thiếu người. Khanh đã bỏ nước Việt mà qua Bắc triều, việc của khanh là cắm đầu phục vụ mà không được yêu sách. Khanh chạy sang với ta chứ ta không mời khanh. Bắc triều người tài không thiếu.

Lý Vân ôm vai Lý Bật:

-Ở nước Việt, ngài là phận chủ, sang đây ngài thành phận tớ, chuyện ấy lẽ thường. Ở nước Việt, ngài là đại quan, trăm họ nhìn vào kính trọng. Ở đây ngài cũng là đại quan nhưng trăm họ dè chừng. Ở nước Việt, xấu tốt gì thì ngài cũng là cận thần của triều đình, muôn họ nghe lời. Ở đây, dù ngài có giỏi như thánh thì cũng chỉ là kẻ ở thuê, sống thuê, ăn thuê, làm thuê, là kẻ thuê thì cần người ta dùng, hết cần người ta thải. Sống đã thế, nếu chết thì hồn quê xa ngái, đất lạ, chốn lạ, thân xác có nằm xuống cũng như kẻ ăn mày sống vô gia cư chết vô địa táng, chẳng ai ngó ngàng, chẳng ai hương khói, sống như thế, chết như thế, nào khác chi thân phận của con chó hoang, con thú hoang. Ngài nghĩ xem, làm thân một kẻ tầm thường, dân đen quê mùa, sống vẫn có bầu có bạn, có cha có mẹ, có làng mạc quê hương, ốm đau có người thăm kẻ viếng, chết có hương khói của đất tổ, liệu có vinh quang hơn kẻ đại thần như ngài ở xứ Bắc triều? Nay ngài tâm sự thì ta cũng dốc bầu tâm sự, uống trà cùng đêm, nói hết với nhau cho cạn lòng cạn nghĩa người Việt với nhau, không có ý chi khác.

Lý Bật nhòa nước mắt, nghẹn ngào hỏi Lý Vân:

-Từ ngày ta quay lưng phản bội, Hoàng thượng nghĩ thế nào?

Lý Vân nhìn vào mặt Lý Bật:

-Hoàng thượng phụng mệnh trời, chăn dắt con dân nước Việt. Cây cỏ bị cháy héo, lòng Hoàng thượng còn đau huống hồ nhìn thấy cảnh ngài, mang danh một đại quan triều đình phản bội chạy theo nước khác, phục vụ nước khác, mưu toan cướp lại nước mình, thử hỏi, kẻ ngu muội ở đầu đướng xó chợ nghe vậy còn thấy xấu hổ không dám ngước mặt nhìn huống hồ là Hoàng thượng. Nhưng Hoàng thượng bao dung, người giận dữ và đau đớn nhưng không phẫn nộ. Nếu Hoàng thượng không bao dung, thử hỏi, theo luật triều đình thì cha mẹ, vợ con, dòng họ của ngài có còn được sống nữa không? Nếu Hoàng thượng không bao dung, thử hỏi, việc chi Hoàng thượng lại ra Thánh chỉ gửi đến ngài mà để trống?

Lý Bật cúi gập đầu xuống, nước mắt rơi lã chã.

Lý Vân tiếp lời:

-Cây sống có cội, nước chảy có nguồn, bậc đại quan hay dân đen, tất cả cũng đều là con dân nước Việt. Giết một người, dù kẻ đó phản trắc, lòng Hoàng thượng cũng đau như muối xát. Cứu một người, dù người đó tạo phản, cũng là làm theo ý trời, cũng là làm theo lòng bao dung độ lượng, theo lời dạy lấy hỉ xả đối nhân xử thế của Phật giáo. Cứu người, bao dung độ lượng để người xấu thành người tốt, kẻ tạo phản thành người có ích, kẻ cao chạy xa bay còn nhớ về tổ tiên để quay đầu về núi, đó là khí chất người Việt ta, mà như ngài, học cao biết rộng nào có quên?

Lý Bật im lặng gật đầu.

-Như ta đây, chỉ là kẻ nho sĩ, phụng mệnh Hoàng thượng đi sứ, được Hoàng đế Bắc triều hứa ban cho không biết bao nhiêu của cải vàng bạc, ban cho cả danh thế, nếu chỉ nghĩ đến mình ta thì cả đời cứ thế sung sướng, rượu ngon gái đẹp, một đời nhàn nhã, thi ca nhạc họa cứ thế mà sống. Nếu ta gật đầu là có hết. Nếu ta từ chối e dễ bị chém đầu. Nhưng ta thà bị chém đầu còn hơn hưởng cái lộc ban phát nhục nhã để làm con hát cho kẻ ngoại bang, để làm kẻ cầm bút viết ra thơ, ra văn ngợi ca kẻ ngoại bang đã bao lần sang cướp nước mình. Ta chỉ là thân phận hèn mọn của nước Việt mà ta vẫn còn mang được khí khái của người Việt, huống chi ngài, làm đến quan đại thần, trăm họ ngưỡng mộ, Hoàng thượng hết mực tin yêu, cha mẹ, vợ con, dòng họ hãnh diện, lại có thể cam tâm chỉ vì miếng ăn, chỉ vì chỗ nằm, chỉ vì chút tiền bạc mà nỡ tâm bội phản?

Lý Bật câm như hến.

Lý Vân quan sát thái độ Lý Bật, tiến tới nữa:

-Ta vốn thông hiểu sử, thông hiểu văn chương, thông hiểu sự đời, ta mạo muội nói với ngài mấy lời từ tâm can vậy thôi. Thôi thì cũng như là lần gặp cuối. Sau này, nếu gặp lại, e ta lại gặp ngài trên tư thế của một kẻ chỉ huy đạo tặc đi cướp đất đai cương giới nước Việt, gặp khi ấy e chẳng còn lời hay ý đẹp mà nói với nhau nữa. Gặp khi ấy sợ chỉ nghe lời trăm họ phỉ nhổ, ngàn câu khinh bỉ tới ngài mà thôi. Nhưng ta lại nghĩ thế này, người nước Việt luôn ngợi ca những quan quân hết lòng vì nước Việt, nhưng cũng sẽ không quên ngợi ca những ai nhất thời suy nghĩ không trọn đạo, nhất thời gặp sai lầm, nhưng đã biết sửa chữa cái sai, lấy công chuộc tội, làm lợi cho đất nước, kẻ đó muôn đời cũng được ngợi ca như những anh hùng, như những thánh nhân, ta chắc như vậy.

Lý Bật đưa tay đỡ lấy tay của Lý Vân, giọng run run:

-Đêm nay ta tới gặp ngài cũng là để chờ đợi một câu này…

Lý Vân cả mừng:

-Ta cũng muốn nói ra hết để chờ đợi một lời này của ngài.

Lý Bật nhìn Lý Vân. Rồi cả hai ôm ghì lấy nhau.

Lý Vân nói:

-Ở đây là nơi đất khách, ngồi giữa lòng tham, ngồi giữa mưu mô, mắt nhìn nhau như thế là hiểu, lời nối lời như thế là cạn ý, người nước Việt vẫn là người nước Việt, ta yêu ngài vì lòng ngài vẫn hướng về đất tổ, dòng máu ngài vẫn hướng về quê cha, thế là ta thỏa lòng lắm.

Lý Bật hỏi:

-Giờ ta phải làm gì?

Lý Vân nói:

-Ngài chỉ làm một việc thôi, ngài là người nước Việt.

Lý Bật gật đầu:

-Ta hiểu.

Lý Vân nói:

-Ta sẽ là người làm chứng cho công cán của ngài trước Hoàng thượng

Lý Bật lại ôm vai Lý Vân:

-Ta hiểu, ta tin…

Lý Vân ghé tai Lý Bật:

-Ngài là người nước Việt mà quan đại thần Bắc triều.

Cả hai nhìn nhau rồi lại ghì lấy nhau tưởng không dứt ra được.

Hôm sau, Hứa Văn phụng mệnh Hoàng thượng Bắc triều, dẫn Lý Vân đi thăm thú cảnh đẹp trong Hoàng cung, thưởng ngoại vườn thượng uyển, lại cùng nhau ngâm nga thơ phú trong tiếng đàn, tiếng hát của các cô gái đẹp như thiên thần. Lại cùng thưởng thức rượu ngon. Lại cùng thử đàn. Lại cùng thử bút. Xem cung cách phục vụ thì Hoàng thượng Bắc triều coi Lý Vân như một bậc quan đại thần của nước lớn chứ không phải của sứ thần nước Việt.

Hứa Văn nâng ly rượu lên, hỏi:

-Ngài thông thái thi hoa nhạc họa, lại rõ kinh sử, am hiểu sự đời, đi đây đó khắp thiên hạ, thấy rõ là Bắc triều ta cái gì cũng lớn, cái gì cũng mạnh, bốn phương gộp lại cũng không so được, ngài có cảm kích?

Lý Vân nói:

-Con kiến bé xíu ở trong cái tổ của mình thì khen tổ mình đẹp nhất thiên hạ. Con voi ở rừng, nhìn cái chân của mình, thì khen chân mình mạnh mẽ nhất thiên hạ. Con người ở nước mình thì khen nước mình, chuyện đó không lạ. Ngài khen Bắc triều to mạnh thì ta cũng nghe vậy, ta cũng cảm kích theo ngài vậy thôi.

Hứa Văn ương ngạnh:

-Nhưng ta muốn nghe từ ngài lời ca ngợi Bắc triều của ta?

Lý Vân nói:

-Bắc triều có nhiều bậc nho sỹ, chữ nghĩa vô vàn, tài năng vô biên, bao đời nay viết văn, làm thơ, vẽ tranh ngợi ca Bắc triều, thế chưa đủ sao?

Hứa Văn:

-Nhưng ta vẫn muốn ngài hãy làm một bài thơ ngợi ca Bắc triều ta, ngợi ca Hoàng thượng ta, ngợi ca sức mạnh, ngợi ca vị thế Bắc triều? Bài thơ ấy sẽ được dâng lên Hoàng thượng, sẽ được đọc cho sứ thần các nước cùng nghe trong đêm yến tiệc. Hảo a?

Lý Vân cả cười:

-Ta chỉ dùng bút lực viết cho nước Việt thôi, chữ của ta, thơ của ta, vần điệu của ta không quen ca ngợi người khác…

Hứa Văn cả giận:

-Trong lời của ngài có sự thù hận?

Lý Vân nói:

-Ta qua đây không phải đi vui thú, mà là sứ thần nước Việt. Thấy Bắc triều của ngài đang  rắp tâm muốn cướp cương giới đảo của nước Việt ta, biết thế mà vẫn làm thơ ca ngợi được sao?

Hứa Văn nói:

-Hoàng thượng ta nói là có chứng cứ. Đảo ấy có chứng cứ người Bắc triều ta từng sinh sống và làm chủ cả ngàn năm, trước người Việt. Không ai cãi được.

Lý Vân cả cười:

-Nếu không ai cãi được thì xin ngài nói với Hoàng thượng cũng chẳng cần bày vẽ yến tiệc thết đãi sứ thần các nước. Như nước Việt ta, cương giới trên đất, ngoài biển, ngàn năm cha ông để lại như thế, không cướp của ai, nên cũng chẳng phải đãi đằng, ép buộc hoặc xu nịnh thiên hạ công nhận…

Hứa Văn dằn cốc rượu xuống:

-Ngài nói câu ấy là đang đưa đầu vào chỗ chết.

Lý Vân cầm cây đàn, buông mấy âm thanh réo rắt, gật đầu:

-Ta như phận cây đàn, ngân lên thành âm thanh, đứt dây thì câm lặng, cái gì cần nói thì ta đã nói, việc của một sứ thần ta cũng đã làm, làm quan một nước, sống chết vì nước mình, nào có gì phải hổ thẹn hoặc lo sợ…

Hứa Văn nói:

-Ta muốn khuyên ngài, lần này xin ngài ngó lơ, chỉ là một hòn đảo thôi, cho thỏa lòng Hoàng thượng ta, rồi hai nước mãi hòa hiếu, hai bên qua lại vui vẻ, lợi ích hai nước cứ thế chia sẻ, quyền lợi của cá nhân ngài Hoàng thượng ta không bỏ quên, như vậy là lợi cả nước, lợi cả mình, chắc ngài không từ chối?

Lý Vân:

-Làm việc cho nước, không phải đi buôn, thấy lãi thì lao vào, thấy lỗ thì bỏ chạy. Cái gì có lợi cho nước Việt, chết ta cũng theo. Cái gì có hại cho nước Việt, ban thưởng cả thuyền vàng, núi ngọc ta cũng chối từ. Xin ngài hãy nhớ cho như vậy.

Hứa Văn lúng túng:

-Ngài nói theo cái lý của ngài, nhưng cái lý của ngài, cái lý của nước Việt không bằng vật chứng của Bắc triều ta, sự chứng kiến của các sứ thần. Lúc ấy e ngài sẽ ân hận…

Lý Vân cười:

-Ta cũng mong là ta ân hận vì hóa ra đúng là đảo ấy của Bắc triều không phải của nước Việt.

Hứa Văn trố mắt:

-Ý ngài là sao?

Lý Vân cười. Tay lại nâng cây đàn lên, gảy một bài, tiếng đàn réo rắt, nghe như chim hót, suối chảy.

Hứa Văn bỏ chỗ đứng dậy.

 Khu đại điện được giăng hoa kết đèn trông thật lộng lẫy. Hoàng hôn vừa xuống, trong và ngoài đại điện đã như hội. Nào là đèn. Nào là hoa. Nào là đàn hát. Nào là người hầu kẻ hạ đi lại như mắc cửi. Rồi bàn nối bàn, bày biện không biết cơ man nào là của ngon vật lạ, mà lại toàn những thức ăn được chế biến từ hải sản biển, quả cũng có dụng ý.

Sứ thần các nước lần lượt mời vào bàn. Mỗi bàn có hai cô gái xiêm y lộng lẫy, miệng cười tươi rói, luôn tay phục dịch.

Các quan đại thần cùng ngồi ở một dãy bàn.

Hoàng đế Bắc triều trực tiếp làm chủ tiệc khoản đãi các sứ thần.

Lý Vân ngồi ở trung tâm, đối diện với chỗ ngồi của Hoàng đế. Lý Vân mang theo cả một ống quyển lớn, được bịt kín, không biết để làm gì.

Không biết đi bằng cách nào mà viên quan Cơ mật viện nước Việt lại có mặt ở Kinh thành Bắc triều thật đúng lúc. Giờ thì Lý Vân đã có trong tay thư chiếu của Hoàng thượng nước Việt do chính mình thảo trên ấn triện của Hoàng thượng. Lại có thêm cả ống quyển đựng những thứ lợi hại. Trong thâm tâm, Lý Vân rất mực khâm phục Hoàng thượng của mình, tao nhã mà khôn khéo, mạnh mẽ mà nhu mì, cương quyết mà uyển chuyển, dù Người ở xa, nhưng Lý Vân như thấy có Người bên cạnh, vững tin, vững lòng, vững chí vô cùng.

Ngồi ở dãy bàn dành cho quan đại thần Bắc triều còn có Lý Bật, gương mặt tươi tỉnh, phong thái chững chạc, thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn Lý Vân ra chiều đắc ý. Mắt người, ánh nhìn đôi khi thay cả vạn lời.

Sau hai tuần rượu, sau khi thưởng lãm những tiết mục múa hát tưng bừng, tất cả im lặng ngước nhìn.

Hoàng đế Bắc triều đứng dậy, tiếng nói sang sảng:

-Ta lấy làm vui vì yến tiệc hôm nay có mặt không sót sứ thần nào của các nước. Bắc triều ta dù là nước lớn nhưng luôn lấy hòa hiếu các nước lân bang làm trọng, sống biết mình biết người, mọi việc trên cuộc đời đều theo ý trời không làm khác được.

Các sứ thần nhìn nhau, mặt mày vui vẻ.

-Yến tiệc thết đãi sứ thần hôm nay ta cho làm toàn những món ngon sơn hảo hải vị chế biến từ tôm cá ngoài biển khơi. Ta mời các khanh ăn những món ngon lấy từ biển khơi là cũng để đàm đạo với các khanh chuyện biển khơi…

Các sứ thần buông đũa, dừng nghe.

-Bắc triều ta nói là nước lớn nhưng cũng chưa phải lớn. Nhiều triều đại Bắc triều cũng mới chỉ làm được việc thống nhất giang sơn trên đất liền mà chưa có dịp vươn ra biển cả. Chưa vươn ra là cũng để có thời gian, có sức lực để cũng cố vương triều, khẳng định vị thế. Nay vị thế ta đã mạnh, sức ta đã cường, quân binh thì triệu voi chiến, ngựa chiến, cung nỏ, giáo gươm đứng đầu các nước, thủy binh giờ đã hùng mạnh, thuyền chiến, thuyền hàng nườm nượp, buôn bán cũng thuận mà nếu xảy ra chạm trán với quân ô trọc, quân thảo khấu cũng đủ sức đè bẹp. Biển cả Bắc triều rộng lớn, giàu có, nên không thể không lo quản lý, không lo đến chủ quyền, để đất đai biển đảo vắng chủ ngoài khơi xa dễ bị các nước lân bang lợi dụng chiếm đoạt. Mà bằng chứng là có nhiều đảo ở khơi xa đã vào tay nước Việt chiếm đoạt, ta không biết là vô tình hay chủ ý, nước Việt lại mang quân binh, thủy binh ra đảo của Bắc triều, rồi nói với thiên hạ là đảo của họ, nói mà không có chứng cứ thì lời nói ấy phỏng có giá trị gì. Nay ta mời các sứ thần tới, trước là mở yến tiệc khoản đãi, bang giao, sau là để cho các sứ thần biết rằng, cương giới đảo hiện nay của nước Việt thực ra ngàn năm qua là của Bắc triều ta, nay ta không thể không chủ quyền, không thể không lấy lại, không thể không công bố.

Các sứ thần ồn ào, số thì ngơ ngác, số thì gật gù, số thì tiếng to tiếng nhỏ.

Các quan đại thần Bắc triều gật gù ưng ý.

Lý Bật có vẻ ưng ý nhất, cười giả lả, cười giả lả, cười giả lả.

Lý Vân điềm nhiên ngồi nghe, cung kính trước lời Hoàng đế Bắc triều, không để ý tới cả trăm đôi mắt đang dồn vào mình, như xoi như mói, như đốt như xoắn.

-Bắc triều ta không cậy nước lớn mà mang quân đi cướp đất đai cương giới nước nào, không ỷ nước lớn mà nói lấy là lấy, nói chủ quyền là chủ quyền, ta muốn các sứ thần, ta muốn triều đình nước Việt biết là biết thế để hiểu, hiểu rồi thì công nhận, công nhận rồi thì trao lại cho Bắc triều cái gì thuộc Bắc triều, như các đảo cương giới biển của nước Việt là của Bắc triều thì mau mau trao lại cho Bắc triều. Ta muốn cuộc bàn giao cương giới trong ấm êm, trong lời ca tiếng nhạc, trong rượu mừng, rồi cứ thế hai nước lại hòa hiếu, tay trong tay, núi sông liền kề như vậy, bên mạnh bên yếu tựa nhau mà sống, mà kinh bang tế thế, muôn năm thuận hòa, trăm họ hai nước vui vẻ, tiếng thơm lừng lẫy non sông, làm các nước lân bang coi đó để nêu gương.

Nhìn khắp lượt các gương mặt sứ thần, lại nhìn chăm chăm vào gương mặt của Lý Vân nãy giờ ngoan ngoãn lắng nghe, Hoàng đế Bắc triều hạ giọng:

-Sẽ có nhiều sứ thần hỏi ta, nếu cương giới đảo là của Bắc triều mà nước Việt cương quyết vẫn chiếm đoạt, cương quyết không giao trả thì làm thế nào? Điều không muốn thế cùng cũng phải làm: mang quân chiếm lại. Ai ngăn trở Bắc triều việc này, chém. Ai cố tình bóp méo sự thật chủ quyền này, giết. Nước nào dám cưỡng đoạt của Bắc triều đất đai cương giới, Bắc triều không tha thứ. Ta lấy làm hài lòng vì các sứ thần đã chăm chú nghe ta nói. Ta lấy làm cảm kích vì sứ thần nước Việt là Lý Vân đã nghe như nuốt lấy từng lời của ta. Ta cảm thấy vui vì quan đại thần nước Việt là Lý Bật đây đã vì ủng hộ nghiệp lớn của Bắc triều, từ bỏ nước Việt bé mọn và hàm hồ, sang làm quan đại thần Bắc triều, lại đại diện Bắc triều nhận bàn giao đảo cương giới của Bắc triều từ nước Việt. Lòng ta hoan hỉ. Xin các sứ thần một ly này.

Từng chung rượu nâng lên uống cạn.

Tiếng nói cười rổn rảng.

Lý Vân cầm chung rượu đi tới từng sứ thần chạm ly, mặt mày tươi rói.

Lý Bật ngất ngưỡng, gật gù cùng nâng ly với các quan đại thần Bắc triều, cười giả lả, cười giả lả, cười giả lả…

Hoàng thượng Bắc triều ra dấu yên lặng:

-Sứ thần là người đại diện cho quốc thể, cũng như sứ thần Lý Vân là người đại diện cho nước Việt. Ta nói như thế. Lý Vân cứ đáp từ. Khanh cứ nói thành thật, nếu vì ủng hộ ta mà sợ không dám về nước Việt thì giang sơn Bắc triều mời khanh ở lại, muốn gì có đó, sống cuộc đời vương giả, Bắc triều coi khanh là bạn tri kỷ.

Lý Vân đứng dậy.

Đại điện nín lặng.

Các sứ thần đổ mắt dồn về phía Lý Vân.

Hoàng thượng tự tin, cả cười nhìn các Đại thần.

Lý Vân đưa mắt nhìn khắp lượt các sứ thần, lại cung kính nhìn Hoàng thượng Bắc triều, rồi từ tốn cất lời:

-Bẩm Bệ hạ. Thần phụng mệng ý chỉ của Hoàng thượng nước Việt sang sứ, trước là để vấn an Hoàng đế Bắc triều, sau là để vụng dại nói mấy lời này…

Lý Vân dừng lời một chút, nói tiếp:

-Trên đời này, từ Bắc triều, nước Việt hay ở mọi nước, con người sinh ra thì phải đặt tên, đến như con thú hoang, chim hoang còn có tên gọi, cái thẻo đất bé tẹo nằm loi thoi nơi đầu nguồn cuối bãi vẫn có tên gọi, huống chi là cương giới, huống chi là đất đai tổ tiên, thần muốn xin Bệ hạ chỉ tên đảo cương giới của Bắc triều là những đảo gì? Hỏi để biết, biết để ghi nhớ, ghi nhớ để truyền cho con cháu, không phải nhầm lẫn, không mang tiếng hồ đồ, xin Bệ hạ xướng tên đảo giới?

Hoàng thượng Bắc triều nhìn các đại thần, các đại thần nhìn nhau.

Các sứ thần xì xầm bàn tán.

Vẫn lời Lý Vân:

-Thần cũng biết, Bệ hạ các triều đại Bắc triều lắm công nhiều việc, lo cho thiên hạ thái bình, trăm họ yên vui, không có mấy thời gian để nắm hết những vùng đất còn bỏ hoang, những đảo giới ngoài khơi xa, nên có thể chưa kịp đặt tên là lẽ thường, không ai trách cứ.

Hoàng thượng Bắc triều cười cười:

-Phải phải. Khanh nói phải lắm.

-Nước Việt cũng không phải đã đặt tên hết đảo giới của mình, hết mọi vùng đất trên cương giới mình, chuyện đó không lạ. Nhưng không đặt tên khác với không  biết. Nước Việt biết hết, đâu là đất đai cương giới đất liền, đâu là đảo giới, biết hết. Cũng như Bắc triều, cũng như các nước lân bang, sao lại không thể không biết?

Tất cả gật gù tán thưởng.

Hoàng thượng Bắc triều cũng gật gù tán thưởng.

Lý Vân hỏi:

-Bẩm Bệ hạ. Dù không đặt tên, chưa đặt tên, nhưng đã là đất đai tổ tiên, chắc hẳn trên bản đồ nước mình phải có. Các nước lân bang cũng thế. Bắc triều hay nước Việt cũng thế. Nước phải có cương giới, muốn biết cương giới phải có bản đồ nước mình. Xin Bệ hạ cho thần và các sứ thần xem bản đồ Bắc triều, nếu bản đồ Bắc triều cũng ghi rõ cả đảo giới thì thần tạm thời nghe lời đó là cương giới Bắc triều.

Hoàng thượng Bắc triều hỏi các quan đại thần rồi cười cười:

-Lý Vân. Khanh nói đúng lắm. Đã là một nước thì phải có bản đồ. Nước nào chả thế. Nhưng bản đồ Bắc triều chưa kịp vẽ đảo giới, chưa vẽ thì sẽ vẽ, có sao đâu.

Lý Vân mở ống quyền, giăng ra cho mọi người tấm bản đồ nước Việt, lại ôn tồn:

-Bản đồ nước Việt truyền từ đời này sang đời khác, đời nào cũng ghi rõ những đảo giới này, ở đây, không những thế, nước Việt còn cho người ra đảo, đo bề ngang bề dọc, chỉ rõ cả bãi đá ngầm, cát ngầm, lại chỉ rõ hướng đi, khoảng cách, lại chỉ rõ chiều cao thấp… Đấy là đảo giới của nước Việt hay của Bắc triều?

Tất cả các sứ thần truyền tay nhau bản đồ nước Việt gật gù.

Lý Vân nói:

-Một mảnh đất hoang, một hòn đảo hoang, muốn là của nước mình thì phải có ba điều làm được: Một là phải đưa vào bản đồ, hai là phải cho người ra quản lý giữ gìn, ba là phải có được số liệu đo đạc. Đảo giới nước Việt có được ba điều ấy, Bắc triều không có được, há dễ lại nhận là của Bắc triều được sao? Bệ hạ anh minh, học một biết mười, đứng trên thiên hạ về học vấn, tinh thông kinh sử, chắc biết điều đó, thần không dám nhắc nhở.

Hoàng thượng Bắc triều tái mặt, định xua tay ngăn Lý Vân ngừng nói mà không kịp.

Lời Lý Vân như suối tuôn, thác đổ:

-Thần mang ơn Bệ hạ đã cho thần có dịp diện kiến đầy đủ các sứ thần. Lại được thưởng thức yến tiệc, rượu ngon, thức ăn ngon, lại được nghe đàn hát, thực lòng vô cùng cảm kích. Lại nghe Bệ hạ truyền chỉ, sau đây cho thần và các sứ thần ra đảo giới nước Việt, để thăm thú, để khẳng định chủ quyền, quả thật dịp may hiếm có, ơn trời biển của Bệ hạ làm thần như muốn khóc.

Hoàng thượng Bắc triều nổi giận:

-Nhà người thôi không nói nữa. Ta là chủ tiệc, không phải ngươi. Đúng thế. Ta sẽ cho ngươi và các sứ thần ra đảo giới nước Việt, để thiên hạ nhìn thấy chứng cứ người Bắc triều ngàn năm đã ở đấy, đã sinh sống, đã làm ăn. Không có chứng cứ nào về chủ quyền bằng điều này.

Lý Vân cung kính:

-Bẩm Bệ hạ, thần tuân chỉ.

Hoàng thượng cả cười mà ruột gan cháy thành lửa:

-Ta hơi chút nóng giận, xin các sứ thần bỏ qua. Ngày mai, ngày lành tháng tốt, vào giờ Hoàng đạo, thuyền rồng ta đã lo liệu, các sứ thần lên thuyền ra cương giới đảo. Giờ ta thấy không được khỏe, xin cáo từ trước, mời các sứ thần cứ ăn uống, cứ nghe đàn hát, thưởng ngoạn phong cảnh Hoàng cung.

Hoàng thượng Bắc triều tọt nhanh vào màn rồng, mất dạng.

Lý Vân thảo xong thư, đưa cho viên quan ở Cơ mật viện nước Việt, ngậm ngùi:

-Ta có thư gửi Hoàng thượng, lại có thư gửi vợ ta. Có gì trong thư ta đã nói hết. Ta đã thề giữ cương giới đảo cho nước Việt, ta sẽ làm được. Nhưng ngài cũng biết ở đây là nơi móng vuốt, thân ta sẽ khó bảo toàn, vậy nên xin ngài hãy nói với Hoàng thượng, Lý Vân ta cả đời sống bằng chữ nghĩa, phụng sự nước Việt, vì nước Việt mà rơi đầu nơi đất khách cũng không lấy làm buồn. Chỉ xin Hoàng thượng lo cho vợ con ta có cái nhà để ở, có mảnh ruộng để trồng cấy cối, chăn nuôi heo gà, nuôi dạy các con ta nên người. Ơn phúc ấy của Hoàng thượng dù xuống dưới suối vàng ta cũng không quên. Xin một lạy này từ biệt ngài, một lạy này từ biệt Bệ hạ, một lạy này từ biệt vợ con ta.

Quan thư  cảm kích:

-Ta sẽ nói lại hết những điều ngài nhắn gửi, nhưng vẫn cầu mong ngài bảo trọng.

Lý Vân nói:

-Ngài nhanh chóng về nước, trong thư ta đã thảo binh lược chống Bắc triều ở cương giới đảo, cương giới đất liền. Trong thư ta cũng đã nói với Hoàng thượng về Lý Bật, giờ Lý Bật là quan đại thần Bắc triều nhưng là người nước Việt, vẫn trung hiếu với nước Việt, xin nước Việt chớ quên điều này…

Quan thư vội vã lên ngựa.

Lý Vân nhìn theo, tay chắp trước ngực, nhìn mãi bóng ngựa của quan thư đang về quê nhà, lòng đau mà không buồn, nước mắt rơi mà không phải vì xấu hổ, Lý Vân trọn đời trọng tín, trọng hiếu, trọng nước, chết cũng là để giữ chữ trọng ấy mà thôi.

Hoàng đế Bắc triều lật qua lật về lá thư của Hoàng thượng nước Việt, nói mà như hét với các quan đại thần:

-Nước Việt bé nhỏ, ta bóp là chết, ta xé là nát, ta giẫm là chìm, cớ sao còn dám ngang ngược thảo thư này, lời lẽ thật ngông cuồng, lý lẽ thật nực cười, khí khái không đúng chỗ. Các khanh xem đi.

Quan Thượng thư Bộ Lễ xem, bất ngờ thốt ra:

-Trời… Chữ viết như rồng bay phượng múa, lời lẽ như thơ ca nhạc họa, đọc một lần là nhớ, xem một lần là ghi, lời lẽ sáng sủa, lý lẽ khúc chiết, ai nghe cũng lọt tai, nước Việt có thần chữ là đây thưa Bệ hạ.

Hoàng thượng quắc mắt lên:

-Khanh còn khen ngợi?

Quan Thượng thư Bộ Lễ cúi mặt:

-Tội thần đáng chết…

Theo ý Hoàng thượng, quan Thượng thư Bộ Hình cho vời Lý Vân vào.

Hoàng thượng hỏi:

-Thư này là do chính khanh viết?

Lý Vân nói:

-Bẩm Bệ hạ, thần chỉ là người cầm bút mà chép ra.

Hoàng thượng hỏi:

-Chép ra là viết, viết là của khanh viết, lời lẽ như thế, thái độ như thế, khanh dám trêu ngươi ta?

Lý Vân nhã  nhặn:

-Bẩm Bệ hạ. Thần có mấy chữ dắt lưng là cũng nhờ hồng phúc của nước Việt. Người nước Việt lâu nay vẫn vậy, ý Hoàng thượng cũng là ý thần dân trăm họ, thần viết ra cũng là ý Hoàng thượng, cũng là ý thần dân, không có gì lạ.

Hoàng thượng Bắc triều hằm hằm:

-Ta biết ngươi lắm chữ, lắm lý, nhưng chữ phỏng làm được gì trước gươm giáo cung nỏ, voi chiến, ngựa chiến, thuyền chiến của ta?

Lý Vân nói:

-Bẩm Bệ hạ, chữ chỉ dùng để viết, nhưng chữ thì sống bền, truyền đời truyền kiếp, ngựa chiến, voi chiến, cung nỏ dùng một lần, dùng vài lần rồi cũng bỏ, chữ thì vẫn còn, thưa Bệ hạ.

Hoàng thượng cướp lời:

-Ta nhắc ngươi, chuyến ra đảo tìm kiếm chứng cứ lần này, ngươi phải như mù, như điếc, như câm thì mong sống, bằng không thì chịu chết, tùy ngươi chọn lựa.

Lý Vân cúi đầu, từ tốn:

-Bẩm Bệ hạ. Bệ hạ anh minh cũng biết, con người vốn có cái tai để nghe lời nói phải, có đôi mắt để nhìn rõ ánh hào quang, có cái miệng để hoan ca điều thánh thiện. Nếu vì điều đó mà thần bị Bệ hạ chém đầu, thì e số thần đến thế là hết, mạng thần đến thế là kết, đời thần đến thế là dừng, mọi việc theo ý trời, thần không lấy làm hối tiếc.

Hoàng thượng kêu lên:

-Ta mệt. Ngươi lui ra. Người lui ra. Ngươi lui ra.

Lý Vân khoan thai bước ra.

Hoàng thượng kéo quan Thượng thư Bộ hình tới gần:

-Giờ thì làm gì với hắn?

Quan Thượng thư Bộ hình:

-Bẩm Bệ hạ, việc này…

Hoàng thượng lại quắc mắt hỏi các quan đại thần:

-Giờ thì các khanh khuyên ta nên làm gì với hắn? Với Lý Vân?

Các quan đại thần cúi rạp:

-Bẩm Bệ hạ, việc này…

Hoàng thượng sừng sộ:

-Ta nuôi các khanh, ban cho không biết bao nhiêu là bổng lộc, phụng sự ta, phụng sự Bắc triều, mà khi ta không cần hỏi thì các khanh đua nhau tấu, khi ta cần hỏi thì các khanh đua nhau im, thế nghĩa là sao?

Tất cả im lặng.

Hoàng thượng Bắc triều khoát tay.

Bãi triều.

Hoàng thượng nước Việt thiết triều khẩn cấp sau khi nhận được thư tấu trình của Lý Vân gửi về. Không khí trong nội điện là rất căng thẳng. Có lẽ đã sang canh ba. Hiếm khi nào Hoàng thượng lại thiết triều vào giờ này. Quan quân trong triều không ai nói với ai nhưng bắt đầu nghĩ tới vận nước đang gặp nguy biến.

Trước khi các quan đại thần vào điện thì  Hoàng thượng đã bàn bạc mọi chuyện cơ  mật với quan Thượng thư Bộ Hình, quan Thượng thư Bộ Binh, phó tướng thủy binh, quan Thượng thư Bộ Lại, các viên quan phụ trách Khâm thiên giám, Hàn lâm viện và  Cơ mật viện.

Hoàng thượng húng hắng ho vì đã thức nhiều đêm, tiếng khản đặc nhưng rành rọt:

-Ta nhận được thư tấu trình của Lý Vân, lòng vừa tự hào có một quan đại thần trung hiếu, trí dũng, vừa lo lắng ăn không ngon, ngủ không yên, nhìn thấy trước cương giới đảo của nước ta đang có nguy cơ bị chiếm đoạt mà lòng đau xót. Ta với các khanh, đã từng bên nhau sát cánh từ những ngày đầu ta phụng mệnh trời lên làm hoàng đế. Những mong kinh bang tế thế, những mong thiên hạ yên bình, những mong các mối bang giao với các nước láng giềng, với Bắc triều hòa hiếu, nhưng ta và các khanh càng cố gắng thì e thế sự lại không chiều ý. Giờ này Bắc triều đang tổ chức thuyền chiến, đưa sứ thần các nước ra đảo Núi Lửa để mục kích bằng chứng về việc người Bắc triều đã sống ở đấy cả ngàn năm nay. Một mặt thì làm ra vẻ khách quan như thế, mặt khác lại đang rầm rộ tổ chức thuyền chiến, thủy binh, quyết lấy đảo giới nước Việt cho bằng được.

Các quan đại thần nhìn nhau cùng nổi giận.

-Về lý, sứ thần Lý Vân của ta đã làm cho sứ thần các nước công nhận đảo giới ấy là của nước Việt, Lý Vân cũng đã chủ động để lần nữa làm cho Bắc triều bẽ mặt vì những cái gọi là chứng cứ của họ trên đảo. Nhưng Bắc triều không buông tha. Lý không được thì họ dùng binh. Điều đó đã nhìn thấy rõ ràng. Thâm hiểm hơn, Bắc triều lại sai Lý Bật, vốn là quan đại thần nước Việt ta, nay phong làm quan đại thần Bắc triều, dẫn quân Bắc triều ra chiếm đảo.

Nhìn khắp lượt các gương mặt quan đại thần, Hoàng thượng hạ giọng:

-Ta cũng thông báo với các khanh việc cơ mật này, theo Lý Vân tấu về, Lý Bật tuy là quan đại thần Bắc triều nhưng là người của ta, đó là việc thuận. Công này nhờ Lý Vân mà có. Nếu lập công, ta tha tội Lý Bật, thành công lớn, tìm cách thay đổi thế trận, làm tan tác quân binh xâm chiếm của Bắc triều, ta sẽ phục hồi chức quan đại thần cho Lý Bật. Đây là chuyện cơ mật, thắng thua nằm ở tài vận dụng của Lý Bật, Lý Bật có thể sống vinh quang về với nước Việt nhưng cũng có thể chết nếu bại lộ. Ta thực lòng rất cảm kích.

Nay có hai việc phải làm ngay: Một là cho thuyền chiến xuất binh ra đảo Nước Lửa, mang theo thủy binh, mang theo vũ khí, hỗ trợ thêm cho Đội Nhất. Tính đường đi, thì thuyền chiến của ta sẽ ra đến đảo giới nhanh hơn  so với thuyền chở sứ thần của Bắc triều. Thuyền chiến ngụy trang như là thuyền dân binh do ta điều ra để đón tiếp các sứ thần. Thứ hai, cương giới trên bộ cũng phải sẵn sàng, không biết được Bắc triều vào thế bí lại tấn công cả đảo giới cả đất liền cương giới của ta. Ta muốn nghe ý các khanh trước khi thiết triều.

Viên quan phụ trách Khâm thiên giám lên tiếng:

-Bẩm Bệ hạ, theo như tính toán về địa pháp, thiên văn của thần thì thuyền ta ra đảo thuận gió hơn, thuận sóng hơn, có thể tới trước hơn cả mười canh giờ, còn hướng Bắc triều thì ngang sóng, ngang gió, con nước không thuận, thuyền sẽ bị cản trở, đi chậm. Để chủ động, xin Bệ hạ cho lệnh xuất binh ngay, sớm một giờ ta chủ động một giờ thưa Bệ hạ.

Hoàng thượng gật đầu:

-Khanh giỏi lắm, ta chuẩn tấu, cho thuyền chiến ngụy trang dân binh ra đón sứ thần xuất bến ngay.

Hoàng thượng quay sang vị đại thần ngồi bên phải:

-Còn khanh,  khanh cai quản Thượng thư Hàn lâm viện, khanh có thể tấu trình trước.

Viên quan ở Hàn lâm viện đáp lời:

-Bẩm Hoàng thượng. Bắc triều ranh ma đưa sứ thần các nước ra đảo giới để xác tín chủ quyền. Theo ngài Lý Vân báo về thì ta đủ chứng lý khẳng định đảo giới là của ta trước các sứ thần. Không thể cứ nói mà được. Thần đã chuẩn bị một bản xác tín rõ ràng, có bản đồ, có số liệu, có vị trí các đảo giới nước Việt, lần này đưa ra đảo, nếu sứ thần các nước xác tín chủ quyền đảo giới của ta, ta mời các sứ thần ký vào bản xác tín này làm chứng. Chứng này sẽ khiến Bắc triều có muốn trở mặt cũng không thể trở mặt. Xin Bệ hạ ngự lãm.

Hoàng thượng xem xét kỹ lưỡng và gật đầu:

-Khá khen cho Khanh đã chuẩn bị chu tất. Việc của Khanh làm là rất phải.

Viên quan ở Cơ mật viện tấu trình:

-Bẩm Bệ hạ. Mọi việc ứng xử với Bắc triều lần này đều là việc cơ mật. Chỉ cần lộ ra thì công sức của sứ thần Lý Vân ta và cả công sức của Triều đình đều vứt bỏ, lại có thể làm tai hại đến sinh mệnh nước Việt ta. Vì thế, theo thần, những việc đã được bàn bạc, chỉ nên gói gém ở đây, không đưa ra trong lễ thiết triều tới. Vào thiết triều, Bệ hạ chỉ ra sắc chỉ giao từng việc cho các quan quân, cái gì không cần biết thì không cho biết.

Hoàng thượng và các quan đại thần gật gù đồng tình.

Phó tướng thủy binh lên tiếng:

-Bẩm Bệ hạ. Việc binh đã gấp, thủy binh, quân binh đều cần sung thêm lực lượng, xin Bệ hạ ra thánh chỉ để trong dân chúng góp thêm quân, góp thêm lương thảo, cùng một lòng bảo vệ cương giới.

Hoàng thượng gật đầu:

-Ta chuẩn tấu.

Các quan đại thần rút ra ngoài đại điện, nơi Hoàng thượng thiết triều.

Hoàng thượng ra hiệu quan Thượng thư Bộ Lại tới:

-Khách quý của ta đâu?

Quan Thượng thư Bộ Lại đưa Hoàng thượng vào phòng riêng. Ở đó có một người thiếu phụ trẻ đẹp đang đợi. Thiếu phụ thấy Hoàng thượng thì luống cuống. Hoàng thượng ôn tồn:

-Ta cho ngươi bình thân.

Người đàn bà ngồi xuống ghế.

Quan Thượng thư Bộ Lại nói:

-Bẩm Bệ hạ, đây là nàng Lý Xuân, vợ Lý Vân. Nàng ở quê, nhà tranh vách đất, có hai con thơ dại…

Hoàng thượng cảm kích:

-Lý Vân của nàng đang nhận sứ mạng của ta phải sang Bắc triều đi sứ, ngày về chưa biết. Công trạng Lý Vân ta không quên. Nay ta ban cho mấy mẹ con nàng bổng lộc của triều đình, nàng có nhà ở khang trang, có ruộng đất, có tiền bạc để nuôi dạy các con của nàng thành người có trí dũng cho nước Việt.

Quan Thượng thư Bộ Lại nhắc:

-Nàng quỳ xuống tạ ơn Bệ hạ đi…

Nhưng Lý Xuân lại đứng lên:

-Bẩm Bệ hạ, ân huệ của Bệ hạ thảo dân không dám quên. Nhưng việc của thảo dân muốn biết về Lý Vân, chàng sống hay chết? Thảo dân chỉ cần biết Lý Vân khỏe mạnh, đang phụng sự Bệ hạ là được, ngoài điều đó ra, thảo dân không dám nhận bất cứ bổng lộc nào của triều đình. Thảo dân có thể làm ruộng, quay tơ dệt vải nuôi các con như bao năm. Xin Bệ hạ hãy nói rõ cho thảo dân biết về sinh mạng của chồng thảo dân thôi.

Hoàng thượng cả cười, nhưng tiếng thì trĩu xuống, cảm động:

-Đàn bà nước Việt coi gia đình, coi chồng con cao hơn bổng lộc. Ta rất lấy làm cảm kích. Nàng yên tâm, chồng của nàng hoàn toàn bình an vô sự, chỉ có điều vì phải công cán ở Bắc triều nên không phải ngày một ngày hai mà về với mẹ con nàng. Vì thế, triều đình mới ban bổng lộc để nàng yên ổn sống…

Quan Thượng thư Bộ Lại nói thêm:

-Nàng đừng từ chối tấm lòng của Hoàng thượng, nàng và các con nàng xứng đáng hưởng bổng lộc triều đình vì công lao của chồng nàng.

Lý Xuân cung kính:

-Bẩm Bệ hạ. Tới khi nào thảo dân hết cái ăn, cái mặc, nhất định thảo dân xin nhận ân huệ của Bệ hạ.

Hoàng thượng cầm tay Lý Xuân, cảm động và hài lòng.

Buổi thiết triều kết thúc cũng vừa lúc canh năm. Thuyền chiến xuất bến. Hoàng thượng quay về phòng, nhưng vẫn không lấy làm yên tâm, lại cho vời quan Thượng thư Bộ Lại tới.

-Chuyện của Lý Bật tạo phản trước đây ta có bảo khanh giữ bí mật, khanh có làm tốt không?

Quan Thượng thư Bộ Lại nói:

-Bẩm Bệ hạ. Thánh chỉ khống chỉ của Bệ hạ chỉ có Bệ hạ, hạ thần, quan đại thần Đội Nhất, phó đô đốc Lý Đạt, quan Thượng thư bộ Hình biết thôi. Tới phút này, trong triều đình vẫn chưa ai hay, chỉ biết Lý Bật phụng mệnh Hoàng thượng ở Bắc triều.

Hoàng thượng gật đầu:

-Khá khen cho Lý Vân đã thuyết phục được Lý Bật quay đầu vào bờ. Con người không phải là sắt đá, có khi nóng khi lạnh, nếu mình bao dung thì còn, nếu mình vội vã nghiêm trị thì mất. Ta cũng cám ơn khanh là người đã khuyên ta mở rộng cửa sống cho Lý Bật và họ hàng Lý Bật để đắc dụng lâu dài.

-Bẩm Bệ hạ, ý thần là một việc, nhưng tấm lòng Bệ hạ cao cả mới nghe lời tấu trình của thần được. Nay Lý Bật đã thuận ý, việc này có lợi vô cùng.

Hoàng thượng nâng chén ngọc, nhấp một ngụm trà sen:

-Sớm muộn Bắc triều cũng xua quân ra cương giới. Một mặt ta ra sức làm cho mạnh mẽ sự hòa hiếu để các nước lân bang hiểu ta, một mặt, đôn đốc quân sĩ, nếu xảy ra chinh chiến thì đánh cho quân binh Bắc triều phải thua lớn, thua lớn để sợ, giảm đi cái thói hung hăng ngông cuồng nước lớn đè nước bé. Ý triều đình còn phải thuận ý trăm họ. Các khanh phải cùng  ta truyền thánh chỉ để trăm họ một lòng vì nước.

-Bẩm Bệ hạ, thần tuân chỉ.

Chỉ mấy ngày, nhờ thuận gió, thuận sóng, thuyền chiến nước Việt đã ra tới đảo Nước Lửa. Đội Nhất, Lý Đạt đón thuyền mừng lắm. Quân binh, thủy binh tay bắt mặt mừng rồi nhanh chóng giấu quân về các đảo lân cận.

Phó tướng Thủy binh của triều đình được Đội Nhất đưa đi thám sát đảo Nước Lửa.

Phó tướng hỏi:

-Ta nghe đảo này có thứ nước lửa quý giá, thực hư ra sao mà Bắc triều lại thèm khát đến vậy?

Đội Nhất nói:

-Nước lửa là có, nhưng nằm sâu lắm, sâu không biết chỗ nào, nhưng hơi khí của nó bốc lên có thể bén lửa, có thể cho lẫn vào nước thì đốt cháy được.

Phó tướng gật đầu:

-Thế thì Bắc triều thèm là phải. Kẻ yếu thèm thì nuốt nước bọt, kẻ mạnh lại ngông cuồng khi thèm thì muốn tìm mọi cách chiếm lấy.

Lý Đạt nói:

-Thưa Phó tướng, nếu Bắc triều xua quân đánh, ta không sợ. Ta ở đảo, thuyền chiến của họ muốn vào thì phải dừng cách đảo mấy dặm, thủy binh họ muốn lên đảo lại phải dùng thuyền nhỏ. Những khó khăn đó sẽ làm họ bị động, nếu ta quyết đánh, trận nào cũng thắng.

Phó tướng nhìn khắp mặt đảo:

-Trận vừa rồi, ta thắng lớn nhưng anh em cũng thiệt hại nhiều, mất một người cũng làm Hoàng thượng mất ăn mất ngủ. Vì thế, ta phụng mệnh Hoàng thượng ra là cùng các ngài nghĩ được cách đánh, cách vây, cách hãm thủy binh Bắc triều, làm sao thắng lớn mà thiệt hại bé, đó là mong muốn của Hoàng thượng.

Đội Nhất nói:

-Xin Phó tướng hãy về nói với Hoàng thượng, quân binh, thủy binh trên đảo giới không tiếc tính mạng, miễn là bảo vệ được đất đai tiên tổ. Binh đao sống chết không thể nói trước được. Còn một người vẫn không sợ.

Phó tướng đặt tay lên vai Đội Nhất:

-Ta có nghe, Lý Thắm của ngài sắp sinh nở, chuyện này đúng không?

Đội Nhất nói:

-Thưa Phó tướng, cũng vài tháng nữa nàng sẽ sinh con.

Phó tướng băn khoăn:

-Không nên để nàng lại đảo, tới đây tình hình không yên ổn, ta không an tâm.

Đội Nhất nói:

-Nàng muốn sinh con ở đảo này. Ta mới đầu cũng băn khoăn lắm nhưng rồi lại thấy, nếu nàng không sinh con, nuôi con tại đảo, rồi đây còn ai dám làm điều đó?

Nghe tiếng vỏ ốc của thủy binh cảnh giới thổi từng hồi dài.

Xa lắm, đã thấy đoàn thuyền sứ thần của Bắc triều đang tiến lại.

Trên thuyền chiến của Bắc triều chở sứ thần các nước còn có các quan đại thần, có cả Tể tướng. Chiến thuyền vừa thả neo thì Đội Nhất đã cho anh em thủy binh đưa nhiều thuyền bé ra đón. Trên đảo lại cắm cờ xì khắp nơi, còn có cả cờ đại của nước Việt, có cả đội quân binh thủy binh nước Việt xếp hai hàng nghênh đón, có cả các cô gái Việt vẫy chào, các sứ thần nhìn nhau, há hốc mồm miệng, thế này thì khác chi đi thăm thú nước Việt chứ liên quan gì tới Bắc triều. Tể tướng Bắc triều quạu mặt xuống, bực bội. Lý Bật kín đáo che mặt vào áo mão tủm tỉm. Sứ thần Lý Vân thì đứng trước mũi thuyền lớn, lòng đầy tự hào.

Một cái lều vải lớn được dựng ở trung tâm đảo.

Đứng đầu phía quốc gia nước Việt là sứ thần Lý Vân và Phó tướng thủy binh.

Phía quốc gia Bắc triều là Tể tướng.

Phó tướng thủy binh nước Việt ra tới tận mép đảo, thân chinh nghênh đón trịnh trọng Tể tướng Bắc triều.

Sứ thần Lý Vân cùng Đội  Nhất và Lý Đạt vui vẻ đón chào sứ thần các nước.

Phía Bắc triều mang theo mấy trăm quân binh, thủy binh, gươm giáo cung nỏ oai phong lẫm liệt nhưng tất cả đều lớ ngớ không biết làm gì đành đứng túm tụm trên bờ, trông như lũ con nít đi xem người lớn trẩy hội.

Các mâm tiệc đã được bày sẵn: nào ốc, nào thịt ba ba, nào các loại cá biển, cả bánh chưng đưa từ đất liền ra, rồi rượu ngô thơm lừng lững.

Khách chủ vui vẻ ngồi bàn. Sứ thần Lý Vân đứng dậy:

-Nhờ ân huệ của Hoàng đế Bắc triều, nay sứ thần Lý Vân ta và quan quân trên đảo giới nước Việt lấy làm hoan hỉ, đón tiếp sứ thần các nước, thật không cơ hội nào có được, lại được đón Tể tướng và các quan đại thần Bắc triều ra thăm thú, thật vui mừng khôn xiết. Nay có bữa cơm đạm bạc, chút rượu quê mùa, xin đa tạ sự có mặt của Tể tướng Bắc triều và các chư vị, xin cạn ly này.

Tể tướng Bắc triều nóng nảy:

-Thưa các sứ thần cùng quan khách. Ta phụng mệnh ý chỉ Hoàng đế Bắc triều đưa sứ thần các nước ra đảo là để tìm kiếm vật chứng, khẳng định chủ quyền đảo giới, đặng nhận sự bàn giao từ quan quân nước Việt, đảo của Bắc triều thì giao về Bắc triều, không phải để vui thú, ăn uống, không phải để ra thăm đảo giới nước Việt.

Lý Vân ôn tồn:

-Xin Tể tướng bình thân đã. Ta hiểu lời Tể tướng, muốn nhanh nhanh phụng mệnh ý chỉ Hoàng đế, nhưng việc đâu có đó, đường xa đã mấy ngày trên biển, thiết nghĩ cùng cần nghỉ ngơi, ăn uống, việc có sẽ có, việc đến sẽ đến, nếu thực đảo giới này do Bắc triều chủ quyền thì cũng coi đây là bữa tiệc nước Việt ta khoản đãi để bàn giao, có chi phải nóng vội. Xin cạn ly này.

Ồn ào cười nói. Các sứ thần hoan hỉ ăn uống, lại được ngắm gái Việt đứng bên phục dịch, lại được thả sức rượu chè, thưởng thức đồ ngon vật lạ. Tể tướng gượng cười, gượng ăn, gượng nói nhưng trong lòng như lửa đốt.

Đội Nhất lại sai nam nữ thủy binh, dân binh trên đảo múa hát.

Lại sai mang những con vỏ ốc được khắc chạm hình rồng nhà Lý mang tặng cho các sứ thần.

Lại sai mang tặng những vỏ ốc xoắn nhỏ, có khoét lỗ, thổi thì ngân nga vang động, khiến các sứ thần thi nhau thổi, tiếng vỏ ốc lúc trầm lúc bổng, lúc thánh thót lúc khoan nhặt, khiến Tể tướng và các quan đại thần Bắc triều mặt đỏ tía tai, miệng cười mà ruột héo, tiếng cười chắc vì thế mà cứ lục bục như miệng ngậm hột thị.

Lý Vân ngả ngả nghiêng nghiêng, đưa chung rượu lên, mắt đỏ, mặt tái, cười cười nói nói say không ra say, tỉnh không ra tỉnh:

-Ta xin lời cuối này. Lý Vân ta nước Việt coi là Đại học sĩ, sách đông tây kim cổ đọc cũng đã nhiều, được ân huệ của Hoàng thượng ta, đi đây đi đó cũng nhiều, tưởng có thể vỗ ngực khoe tài khoe giỏi, đệ nhất thiên hạ, nào ngờ khi được đi sứ sang Bắc triều, gặp Hoàng đế Bắc triều, trước một người kiến thức vô biên, trí tuệ sừng sững, lại thấy hổ thẹn trong lòng, rằng cái biết của ta chỉ bé nhỏ như hạt cát, than ôi, đời người ngắn ngủi, biết đến bao giờ gọi là biết, học đến bao giờ cho hết sự học, hổ thẹn, hổ thẹn…

Mọi người ngơ ngác nhìn Lý Vân không biết có chuyện gì. Lý Vân đột ngột khóc, nước mắt giàn giụa:

-Giờ ta đang cùng anh em quân binh, thủy binh nước Việt đứng ở đảo này, rõ ràng là đang ở trên đất Việt mà e chỉ trong chốc lát, lại hóa là đất của Hoàng đế Bắc triều, lại phải giao lại, đi ở sao đành, lòng thấy bâng bâng, nhớ nhớ, thương thương, dù gì thì hòn đảo này cũng đã ở cùng nước Việt trăm năm qua, ngàn năm qua, nay phải dứt áo về với Hoàng đế Bắc triều, sao không nghẹn ngào cảm động.

Tể tướng Bắc triều đứng dậy, bước lại, ôm vai Lý Vân:

-Ta hiểu lòng ngài, kể như ngài, trung hiếu vẹn toàn với nước Việt mà phải thay mặt nước Việt ký chứng chỉ để giao đảo giới cho Bắc triều ta kể cũng cảm động. Xin ngài bình tĩnh.

Lý Vân khóc to hơn:

-Nếu cho phép ta trách Hoàng đế Bắc triều thì ta trách thế này thôi, sao bao năm qua không lấy đảo giới này, không đưa đảo giới này về Bắc triều, để nước Việt ta khỏi tốn sức, tốn công, tốn của ra gìn giữ. Vừa hao người, hao sức, tốn kém ngân khố, nay bàn giao xong, quan quân lủi thủi về nước, lệ rơi biết mấy cho vừa?

Tể tướng Bắc triều an ủi:

-Ta sẽ tấu trình với Hoàng đế của ta, cho một ít vàng bạc bù đắp cho công cán nước Việt, không sao, không sao, xin ngài đừng khóc than ở chốn đông người, e không mấy hay.

Các sứ thần cũng nhao nhao lên tiếng, số thì an ủi, số thì chia sẻ, số thì bùi ngùi cảm động theo Lý Vân.

Lý Vân lại nói:

-Giờ tiệc cũng đã tàn. Chuyện cũng đã cạn. Hát hò, ăn uống lúc này hỏi còn hứng thú gì nữa. Vậy xin Tể tướng Bắc triều, xin các quan Đại thần Bắc triều, xin các sứ thần mau mau làm những việc cần làm để chứng minh chủ quyền cương giới, rồi đường ai nấy đi, nước ai về nước đó, một lần cho xong một lần.

Tể tướng Bắc triều phấn khởi:

-Đúng đúng. Ngài nói chí phải.

Mọi người dạt ra, ai chức sắc gì đứng theo chức sắc đó. Tể tướng Bắc triều nói:

-Theo sử sách truyền lại, người Bắc triều ta từng sống ở đảo giới này, ngàn năm nay, trong đảo giới mặc nhiên còn lưu trữ nhiều vật dụng, nhiều vũ khí của người Bắc triều. Đó là chứng cứ.

Các sứ thần gật gật đầu.

Lý Vân hồ hởi:

-Lời Tể tướng như lời Thánh chỉ, quá đúng quá đúng, vật dụng, vũ khí người xưa là chứng chỉ…

Tể tướng dương dương tự đắc:

-Nếu ta cho quân binh đào xới trên đảo mà tìm được vật dụng, vũ khí người xưa Bắc triều ta, thì ngài đồng ý mời các sứ thần cùng ký xác tín chủ quyền đảo giới cho Bắc triều ta chứ?

Lý Vân ngoảnh mặt về phía Bắc triều vái một vái, rồi quay lại nhìn Tể tướng và quan quân, hai tay chắp lại cung kính nói:

-Thánh chỉ Hoàng đế Bắc triều đã nói, vật chứng chủ quyền là vật dụng của người Bắc triều rơi rớt trên đảo, vùi lấp trên đảo cả ngàn năm, tìm được nó là tìm được chủ quyền, ta phận sứ thần, chỉ là nho sỹ, Hoàng thượng Bắc triều nói thế thì ta nghe theo thế, giờ biết làm thế nào.

Tể tướng đắc ý ra lệnh cho quân binh dùng kiếm, dùng sắt nhọn tỏa quân đào bới khắp đảo. Khắc Ngôn và Hứa Văn bước vội theo.

Dẫn đầu nhóm quân binh đào bới còn có Lý Bật.

Khắc Ngôn, Hứa Văn chỉ ở đâu, quân binh Bắc triều đào ở đó.

Chẳng mấy hồi mà đưa tới từng bó cung nỏ, vũ khí, gươm giáo, vật dụng người Bắc triều. Các sứ thần ùa tới xem, gật gật đầu. Quân binh, thủy binh của Đội Nhất cũng ngạc nhiên không kém.

Lý Vân làm như đang hoa mắt chóng mặt, còn không dám nhìn, không dám sờ mó các vật chứng được đào lên.

Tể tướng Bắc triều ôm vai Lý Bật, ôm vai Khắc Ngôn, cầm tay Hứa Văn “ Hảo a. Hảo a”, rồi nói lớn:

-Thôi thì khỏi cần phải đào thêm nữa, chắc ngần này vật chứng đã đủ cho ngài Lý Vân đoán định?

Lý Vân khúm núm:

-Tể tướng làm ta thẹn quá… Vật chứng như thế rồi, chắc cũng chẳng cần nói thêm gì nữa.

Các sứ thần xem xét, gật gù.

Tể tướng Bắc triều hài lòng, sai châm thuốc trong tẩu mang tới, rít một hơi thuốc, phả khói mù mịt, khoan khoái.

Lý Vân giờ mới khoan thai bước đến, đứng trước các vật chứng, cung kính nhìn Tể tướng và các quan đại thần Bắc triều, chắp tay cúi chào sứ thần các nước rồi  lên tiếng:

-Xin Tể tướng cho ta hỏi vài câu gọi là lý cùn, thế yếu với ngài được không?

Tể tướng Bắc triều gật đầu:

-Ngài cứ hỏi.

Lý Vân hỏi:

-Vật chứng này đúng là của người Bắc triều đã dùng nó để sinh sống, để trận mạc, có cả ngàn năm nay?

Tể tướng gật đầu:

-Đúng vậy.

Lý Vân nói:

-Ngài nói phải. Tất cả những vật dụng, khí giới đều cũ, nhìn thì biết, cũng phải mấy trăm tuổi, có nhiều thứ cả ngàn năm tuổi. Không sai. Không sai. Nhưng xin hỏi Tể tướng và các đại quan Bắc triều câu hỏi nhỏ, sao vật dụng, khí giới của người Bắc triều vùi lấp trên đảo giới cả trăm năm, cả ngàn năm, đảo giới mệnh mông, mà các ngài đào đâu cũng trúng, nhìn đâu cũng thấy, thần tài thần tài…

Tể tướng bối rối:

-Việc này… Có thể do quan quân ta cảm được hồn thiêng tổ tiên, phù hộ độ trì nên đào đâu cũng trúng chăng?

Các sứ thần cười ầm ĩ.

Lý Vân lại đưa một bó cung tên lên:

-Thưa Tể tướng, cung tên này, theo hiểu biết hèn mọn của thần thì có tới ngàn năm tuổi, người Bắc triều chắc đã có trận binh đao cách đây cả ngàn năm ở đảo giới này, nên đã chôn cung tên ở đây?

Tể tướng nói:

-Đúng thế, đúng thế, người Bắc triều ta đã chôn cung tên này cả ngàn năm nay phòng khi có xâm lăng thì dùng nó mà bảo vệ đảo giới, thế nên đảo giới mới là chủ quyền Bắc triều ta cả ngàn năm là như vậy

Lý Vân ngắm nghía bó cung tên, lại đưa tới trước mặt các sứ thần và ôn tồn:

-Cung tên có cả ngàn năm, nhưng dây buộc cung tên, vải bó cung tên là có từ lúc nào, xin các sứ thần chỉ bảo.

Tể tướng tái mặt. Các sứ thần đưa nhau xem dây buộc, vải bó thì cười lăn lộn, quên cả giữ thể diện sứ thần quốc gia của mình.

Lý Vân đột ngột rút kiếm, lấy chân đạp ngã Khắc Ngôn xuống cát, đưa mũi kiếm vào cổ Khắc Ngôn. Hành động ấy nhanh tới mức không ai kịp phản ứng. Tiếng Lý Vân vang vọng cả một góc đảo:

-Ngươi đã làm ô uế uy danh của Hoàng đế Bắc triều, tội ngươi chém chưa hết tội, xé xác phanh thây chưa hết tội. Ngươi nhìn đi, lại dám lấy dây, lấy vải thời nay để bó cung nỏ thời xưa chôn xuống đảo giới, lừa nước Việt ta là tội nhẹ, lừa cả Hoàng đế, lừa cả Triều đình nước ngươi mới là trọng tội. Chém.

Lưỡi kiếm của Lý Vân vung lên, Khắc Ngôn sụp xuống vái lạy:

-Bẩm ngài tha mạng… Bẩm ngài tha mạng… Đây là con làm theo lệnh của ngài Hứa Văn mà thôi…

Lý Vân quắc mắt nhìn Hứa Văn. Hứa Văn che tay lên mặt, lí nhí:

-Việc này…

Tể tướng ra vẻ giận dữ bước tới Hứa Văn:

-Ngài làm thế là mất thể diện của ta, của triều đình.

Lý Vân cả cười, đỡ Khắc Ngôn đứng dậy:

-Không có chi. Không có chi. Việc rõ thế rồi. Chỉ vì quan đại thần Hứa Văn nhất thời nôn nóng, nhất thời dối trá, sai người chôn vật chứng trên đảo giới nước Việt mà làm Hoàng đế Bắc triều cũng nhầm lẫn, làm Tể tướng cũng mất công… Thôi mọi chuyện bỏ qua, xin các sứ thần cũng đừng lấy đó mà đàm tiếu, đặng ảnh hưởng đến mối bang giao giữa Bắc triều với các nước lân bang…

Sứ thần các nước gật đầu.

Lý Vân nói:

-Thế nên, đảo giới này là của người Việt, truyền đời đều thế, bản đồ đều ghi rõ, đều vẽ ra, nay ta có mang theo xin các sứ thần nếu thuận ý với việc đảo giới này là của nước Việt, thì nước Việt xin mỗi sứ thần một chữ ký. Xin đa tạ. Xin đa tạ.

Tể tướng Bắc triều chưa kịp nói gì thì Sứ thần các nước đã ký xong xác tín.

Lý Vân lại nói:

-Ta nghe quan phụ trách Khâm Thiên giám nước Việt bố cáo, mấy ngày nữa trên biển có bão táp, vậy xin Tể tướng, các đại thần Bắc triều và các sứ thần mau mau lên thuyền về đất liền, đặng bảo toàn tính mạng.

Các sứ thần sợ hãi xuống thuyền.

Tể tướng Bắc triều nấn ná đợi Lý Vân tới gần thì nói:

-Nếu ta là Hoàng thượng, ta phong ngài là Tể tướng.

Lý Vân chắp tay cung kính:

-Xin đa tạ ngài. Xin Tể tướng cùng sứ thần, cùng các quan đại thần vạn dặm bình an, trời yên biển lặng để đi tới nơi về tới chốn. Xin bái biệt.

Tể tướng quay gót.

Lý Bật đi qua Lý Vân, tay họ nắm lấy nhau không nói.

Chốc lát, thuyền Bắc triều đã ra khơi.

Lý Vân nói với Đội Nhất:

-Ngài chuẩn bị đón quân binh Bắc triều xâm chiếm đảo. Ta phải quay vào gặp Hoàng thượng. Việc gấp, cương giới giữ được hay không trông chờ vào tài trí của ngài và dũng khí anh em. Xin hãy hết lòng vì nước Việt.

Đội Nhất cảm kích, đưa chân Lý Vân lên tới thuyền.

Phó tướng thủy binh cũng lên thuyền về đất liền.

Hôm nay, bầu trời nơi đảo giới e cao hơn, xanh hơn.

Biển cũng thế, xanh ngắt và mênh mông.

Đội Nhất, Lý Thắm đứng bên nhau nhìn mãi con thuyền nước Việt đang đi xa dần.

Lý Thắm bỗng dưng bật khóc.

Nghe xong tấu trình của Tể tướng về việc Lý Vân đã làm cho Triều đình Bắc triều bẽ mặt trước sứ thần các nước về chủ quyền đảo giới, Hoàng đế Bắc triều chồm tới trước mặt Tể tướng:

-Không cần chứng cứ, không cần lý do gây hấn, không cần, phải đưa quân đi chiếm lấy, cướp đấy đảo Nước Lửa, không chỉ cướp hết các đảo, mà cả đất liền nữa, cướp hết, đạp nước Việt xuống dưới gót chân của người Bắc triều, nhấn nó xuống bùn, vì sao à? Tất cả các  Hoàng đế Bắc triều có vị Hoàng đế nào chịu nhục trước nước Việt như ta không? Có không?

Tể tướng nói nhỏ:

-Bẩm Bệ hạ, đó chỉ là tên sứ thần Lý Vân…

-Lý Vân sao? Lý Vân là sứ thần nước Việt, cũng là nước Việt… Hãy thảo ngay Thánh chỉ, đem quân đi ngay…

Tể tướng vẫn bình tĩnh:

-Bẩm Bệ hạ, chuyện đưa quân đi xâm lăng là việc trọng đại, xin Bệ hạ bình tĩnh… Nếu vội vã, nếu… thua thì còn nhục hơn…

Hoàng thượng Bắc triều đứng lên, đi lại, ngó nghiêng tấm bản đồ lớn treo trên tường, quay lại Tể tướng:

-Ta có bao nhiêu lần xâm chiếm nước Việt?

Tể tướng nói:

-Bẩm Bệ hạ, nếu thần nhớ không nhầm, kể khoảng mấy trăm năm trở lại, lớn nhỏ đếm  gần trăm cuộc.

-Ta đã chiến thắng bao nhiêu lần?

Tể tướng khoanh tay:

-Bẩm Bệ hạ…

-Nhiều tới mức không nhớ sao? Khanh cố nhớ xem, Bắc triều ta đã đè bẹp nước Việt ở bao nhiêu cuộc chiến?

Tể tướng thở hắt ra:

-Bẩm Bệ hạ… Tất cả đều thua… thua rất đau… tướng quân bị chết, bị bắt, bị đuổi… thua hết thưa Bệ hạ.

Hoàng thượng Bắc triều ngồi bệt xuống long sàng.

Im lặng.

Nghe rõ cả tiếng thở dốc của Hoàng thượng.

Hoàng thượng hỏi, tiếng yếu ớt như đứt hơi:

-Khanh là Tể tướng… Khanh nói ta nghe… Vì sao ta thua? Ta lớn như thế? Khí giới ta hơn gấp trăm gấp ngàn nước Việt… Quân binh ta gấp trăm gấp ngàn nước Việt… Vì sao thua mãi… như vậy?

Tể tướng ấp úng:

-Mỗi lần thua, Triều đình đều có tìm ra nguyên cớ, lúc thì do bất lợi về địa hình, về địa lý, về thời tiết, lúc thì bất lợi về lòng người… Khi thì do chủ quan… Thiên thời, địa lợi, nhân hòa đều không lúc nào thuận…

Hoàng thượng trợn mắt lên:

-Ngu ngốc… Sao không tìm lý do từ phía nước Việt mà chỉ tìm lý do ở Bắc triều. Nước Việt. Nước Việt. Nước Việt. Vì sao nước Việt thắng? Nước Việt yếu mà vẫn thắng. Nước Việt bé mà vẫn thắng. Vì sao nước Việt thắng?

Tể tướng lúng túng:

-Việc này… thưa Bệ hạ…

Hoàng thượng hét lên:

-Gọi Lý Bật vào cho ta.

Lý Bật vào, chưa kịp chào xong câu “ Hoàng thượng vạn tuế” thì đã nghe Hoàng thượng dí câu hỏi ngay trước mặt:

-Nói ta nghe… Khanh vốn là đại thần nước Việt, khanh phải trả lời ta, vì sao lần nào Bắc triều mang quân đánh nước Việt, Bắc triều cũng thua? Vì sao nước Việt thắng?

Lý Bật ngạc nhiên nhìn Hoàng thượng:

-Thần có phải trả lời câu hỏi của Bệ hạ không, thưa Bệ hạ?

Hoàng thượng nhíu mặt:

-Khanh hỏi vậy là có ý gì?

Lý Bật nói:

-Bẩm Bệ hạ… Thần hỏi vậy vì chính thần mới đây phụng mệnh Bệ hạ, dẫn quân đánh chiếm đảo Nước Lửa, cũng thua đau…

Hoàng thượng bối rối:

-Khanh thua cũng là Bắc triều thua, vì sao nước Việt thắng? Mấy trăm năm nay đều thắng? Ta xua quân cả trăm lần trong mấy trăm năm, lần nào cũng thua. Vì sao nước Việt thắng?

Tể tướng buồn rầu nhìn Lý Bật:

-Hãy nói với Hoàng thượng… Hoàng thượng hỏi ta mà ta không trả lời được… Ngài là đại thần nước Việt, ngài phải biết…

Hoàng thượng cướp lời:

-Đúng… Khanh phải biết…

Lý Bật ấp úng:

-Không nói thì Bệ hạ cho thần khi quân, sẽ bị chém đầu, mà  nói thì sợ Bệ hạ cũng sẽ nổi giận chém đầu…

Hoàng thượng:

-Ta đã phong cho khanh là đại quan Bắc triều, há dễ ta chém đầu khanh.

Lý Bật ngước lên nhìn Bệ hạ:

-Bẩm Bệ hạ… Thân phận thần với nước Việt chỉ là kẻ tạo phản… Lời của thần với Bệ hạ không biết có giá trị không?

Hoàng thượng nóng nảy:

-Ta đang chờ câu trả lời của khanh…

Lý Bật lùi lại một bước, cung kính:

-Bẩm Bệ hạ, nếu bây giờ thần giành lấy vương miện trên đầu Bệ hạ rồi hô hoán đó là vương miện của thần thì Bệ hạ có chịu không? Triều đình chịu không? Trăm họ Bắc triều có chịu không?

Hoàng thượng đập bàn:

-Ngu ngốc. Khanh dám làm việc đó? Khanh dám làm việc trái đạo, trái lý, trái khuôn vàng thước ngọc như thế sao? Ta giết khanh. Triều đình giết khanh. Trăm họ băm nát khanh ra.

Lý Bật gật đầu cung kính:

-Bẩm Bệ hạ, đó là lý do vì sao nước Việt thắng.

Hoàng thượng nhìn Tể tướng lại nhìn Lý Bật:

-Khanh cứ vòng vo như thế làm gì? Nói thẳng ta nghe..

Lý Bật nói:

-Bẩm Bệ hạ… Nước Việt thắng vì Bắc triều cướp nước Việt cũng như khanh dám cướp vương miện của Bệ hạ. Cướp như thế thì lòng dân trăm họ đứng về một phía chống lại, mà bản thân người đi cướp cũng lo sợ không yên. Cái không yên của người đi cướp lại vấp phải sự giận dữ của cả một đất nước, trăm họ như một, triệu người như một, dựng nên thành lũy, hỏi như thế làm sao cướp được…

Hoàng thượng phẩy tay:

-Khanh nói tiếp…

-Bẩm Bệ hạ… Mỗi lần Bắc triều xua quân đánh nước Việt, mọi người dân nước Việt đều quả quyết, nhất định sẽ thắng Bắc triều…

-Nói tiếp…

-Nước Việt bé nên không dùng bé địch lớn, mà dùng khôn ngoan đấu với ngu dại, dùng cái trí đấu với sự ngạo mạn, dùng cái khéo léo đấu với sự vụng về, dùng cái thế chủ nhà đấu với cái bất ổn hoảng hốt của kẻ ăn trộm…

Hoàng thượng thở hắt ra:

-Hết chưa?

-Bẩm Bệ hạ… Còn một điều nữa…

-Nói…

-Nước Việt truyền nhiều đời kinh nghiệm chống ngoại bang xâm lăng, còn Bắc triều của Bệ hạ lại không thể truyền đời cho con cháu việc phải cướp nước Việt. Kinh nghiệm giữ nước thì dễ truyền, dễ nhớ, dễ được ủng hộ, còn kinh nghiệm cướp cương giới các nước lân bang e sử sách Bắc triều không có gì để truyền, lại còn giấu giếm, vì không thể khoe với con cháu về tội cướp nước, cũng không thể khoe với con cháu về những thất bại ê chề…

-Hết chưa?

-Bẩm Bệ hạ, đáng tiếc là, Bệ hạ vẫn tiếp tục làm cái việc mà trước đó, nhiều triều Hoàng đế Bắc triều đã làm là cướp đất đai nước Viêt, đòi thôn tính nước Việt…

-Thì sao?

-Thì sẽ thua, thưa Bệ hạ.

-Thua?

-Bẩm Bệ hạ đúng thế.

-Thua?

-Bẩm Bệ hạ đúng thế.

-Thua?

-Bẩm Bệ hạ đúng thế.

Hoàng thượng gào lên lần nữa:

-Thua?

Tể tướng bật lên một tiếng, nối với tiếng trả lời của Lý Bật:

-Bẩm Bệ hạ đúng thế… Thua.

Hoàng thượng quắc mắt nhìn Tể tướng:

-Thua?

Tể tướng cúi mặt.

Hoàng thượng chỉ mặt Lý Bật:

-Ta cám ơn khanh đã nói hết… Ta sẽ ban thưởng… Nhưng để ban thưởng, lần này ta giao cho khanh đưa quân chiếm đảo nước Việt. Khanh vốn là đại thần nước Việt, hiểu cách đánh nước Việt, hiểu binh pháp nước Việt thì chắc chắn biết cách tránh được cách đánh đó, biết cách hóa giải binh pháp đó… Lần này ta tin Bắc triều thắng, vì ít ra ta đã không đi đường mòn mà các Hoàng đế trước ta đã đi… Ta nói không sai chứ?

Lý Bật cúi đầu:

-Thần tuân chỉ.

Hoàng thượng cho Lý Bật ra.

Còn lại Tể tướng, Hoàng thượng hỏi:

-Ta nói thế không sai chứ?

Tể tướng nói:

-Bẩm Bệ hạ… Triều đình thấy bất an nếu Bệ hạ lại giao cả đoàn thuyền chiến vào tay Lý Bật để ra đánh chiếm đảo giới nước Việt…

Hoàng thượng nheo mắt nhìn Tể tướng:

-Triều đình không tin ta?

Tể tướng cung kính:

-Bẩm Bệ hạ… Xin Bệ hạ tha tội… Nhưng đó là nỗi lo mà thần thấy Bệ hạ cần cân nhắc.

Hoàng thượng mỉm cười:

-Ta không quá ngạo mạn, cũng không quá ngông cuồng, cũng không quá cả tin… Khanh nghe ta nói đây…Ví dụ thôi… Hơi thô tục một chút… Người Bắc triều ta nhiều như cát sa mạc… Nếu mỗi người Bắc triều cùng nhổ một bãi nước bọt về phía nước Việt, thì lượng nước ấy đủ để cuốn trôi người nước Việt ra biển… Ta nói đúng chứ?

Tể tướng không nhịn được, òa lên cười.

Hoàng thượng cũng cười ha hả.

-Khanh biết không… Nói thế để biết, với ta, cướp đất đai cương giới nước Việt là chuyện bé, lấy cả nước Việt mới là chuyện đáng làm… và ta lấy được.

Tể tướng nói:

-Bệ hạ vẫn nhớ những gì Lý Bật vừa nói?

Hoàng thượng gật đầu:

-Ta không quên lời nào…

-Bẩm Bệ hạ, nhưng lần này nếu ta thua?

Hoàng thượng Bắc triều nổi khùng:

-Nếu thua à ? Thì lần khác… lần khác… năm khác… trăm năm nữa… ngàn năm nữa… khanh hiểu chứ? Ngàn năm nữa cũng đừng quên phải cướp lấy nước Việt…

Tể tướng rụt rè hỏi:

-Bẩm Bệ hạ, có câu này thần muốn hỏi Bệ hạ?

-Khanh cứ nói.

-Bẩm Bệ hạ, cứ gì Bắc triều ta cứ phải đánh nước Việt?

Hoàng thượng nhìn Tể tướng:

-Nếu khanh không phải là ái khanh của ta… Nếu khanh không từng là ân nhân ngày xưa của ta… Câu hỏi này có thể khanh không mất mạng thì cũng bị phế chức, khanh hiểu chứ. Khanh đã hỏi thì ta nói cho khanh hay. Lấy nước Việt vì Bắc triều không muốn có một nước bé mà lợi hại ở bên hông mình, lại án ngự cả một địa thế hiểm yếu bên hông mình, lại bất trị, lại gan hùng, lại không biết thua cuộc chiến nào… Lấy được nước Việt thì nhiều nước ở sau nước Việt cũng bị ta thôn tính. Khanh hiểu chứ?

Tể tướng nói:

-Nhưng cứ đánh rồi lại thua như thế, Bệ hạ không thấy phải đắn đo?

Hoàng thượng nói:

-Nếu không đánh được bằng binh đao thì sẽ đánh bằng kế khác, phải làm sao để cho người Bắc triều lưu lạc nhiều ở nước Việt, sinh con đẻ cái ở nước Việt, gieo mầm Bắc triều ở nước Việt, cách này cần cả trăm năm, cần cả ngàn năm. Nhưng trước khi thực hiện kế dài lâu ấy, ta cần xuất binh, ta cần cho nước Việt thua đau một trận, có thua thì  mới lùi, có lùi thì mới phục, có phục thì ta mới ép nước Việt làm chư hầu, mãi mãi là chư hầu, như thế thì kế lâu dài thành kế ngắn ngày, hiểu chưa?

Tể tướng cúi đầu:

-Bệ hạ anh minh.

Hoàng thượng lại nói:

-Xuất binh lần này, nói là giao cho Lý Bật nhưng dùng Lý Bật làm mồi, làm con thiêu thân, quân binh của ta phải nghe theo chủ tướng của ta, khanh hiểu chứ?

Tể tướng cúi đầu:

-Bẩm Bệ hạ, thần hiểu.

-Làm thế, Lý Bật muốn tạo phản cũng bị ta chủ động, muốn lập công thì càng lợi cho ta, được cả đôi đường…

Tể tướng nhìn Hoàng thượng. Sống lưng Tể tướng cảm thấy nhồn nhột, lành lạnh.

 Đội Nhất giữ lại một lực lượng vừa đủ ở đảo Nước Lửa. Điều này khiến Lý Đạt rất  băn khoăn. Lý Thắm cũng ngạc nhiên với quyết định đó. Đội Nhất nói:

-Đảo Nước Lửa đã có lửa là vũ khí, không cần nhiều quân. Với lại, Bắc triều không ngu dại gì lại tấn công chủ yếu vào đảo Nước Lửa. Lần này chúng sẽ tập trung vào đảo Ốc, đảo Hút, thậm chí cả đảo Vú Mẹ là những đảo thuận cho chúng. Hãy tin ta.

Lý Đạt nói:

-Lý Bật đã biết rõ thực lực, cách đánh của ta, lần này chúng lại tăng quân, tăng thuyền chiến, đại ca cần thận trọng.

Đội Nhất nói:

-Thông báo với tất cả quân binh, thủy binh, chỉ được phép bắt sống Lý Bật, không được giết hoặc làm bị thương Lý Bật.

Lý Thắm, Lý Đạt nhìn nhau.

Huệ Hương tức tối:

-Biết thế, lần trước, em giết hắn luôn.

Đội Nhất im lặng.

Suốt mấy ngày qua, các lực lượng quân binh, thủy binh đã đào hầm, chuẩn bị khí giới, dàn binh kỹ càng ở ba hòn đảo quan trọng là đảo Nước Lửa, đảo Ốc và đảo Hút.

Đội Nhất và Lý Đạt còn tập trung mấy chục thủy binh khỏe nhất, cả ngày tập lặn ngoài biển. Dù anh em chưa biết tập lặn để làm gì, nhưng Đội Nhất qua mỗi ngày tập lại loại bớt để chọn chưa tới hai mươi người có khả năng lặn xa nhất. Đội Nhất tập họp họ lại:

-Ta phải đánh thủy binh Bắc triều ngay khi thuyền chúng vừa tới, chưa kịp chuẩn bị gì. Việc của anh em là lặn áp sát thuyền, dùng cây sắt nhọn đâm thủng thuyền của chúng trước. Muốn vậy phải thử.

Anh em lại lặn, rồi thử với những con thuyền giả.

Những ngày tập ấy, Lý Thắm cho anh em ăn nhiều thức ăn ngon.

Số thủy binh còn lại, Đội Nhất cho Lý Đạt huấn luyện, cả việc đánh giặc bằng cung tên, gươm giáo cả việc tập nằm ép mình trong cát, chịu đựng nắng nóng, ẩn mình dưới gốc những bụi rau muống biển, bảo đảm bí mật, nhằm tạo được thế bất ngờ trong tấn công.

Các cô gái thì suốt ngày tập bắn cung nỏ dưới sự chỉ huy của Huệ Hương. Dù biết đây chỉ là lực lượng dự phòng, nhưng các cô gái cũng luyện tập rất chăm chỉ.

Lực lượng quân binh, thủy binh được Triều đình chi viện thêm ra tới mấy trăm người, được phân đều về các đảo. Cung nỏ, khí giới đầy đủ. Lương thảo, nước uống cũng được chuẩn bị rất kỹ càng.

Đêm đêm, Lý Thắm vẫn lo lắng hỏi Đội Nhất:

-Chàng không lo lắng chứ?

Đội Nhất nói:

-Ta chỉ lo lắng cho nàng…

Lý Thắm nói:

-Em hứa, dù bất cứ việc gì xảy ra, em cũng bảo vệ con của chàng, chàng đừng quá bận tâm…

Đội Nhất áp tai vào bụng Lý Thắm:

-Ta và anh em không sợ gì cả. Kẻ đánh từ thuyền vào bao giờ cũng yếu sức hơn với ta, ở trong đảo đánh ra. Nhưng chỉ e chúng mang quá nhiều thuyền chiến, quân binh, thủy binh, ép ta thì rất khó khăn.

Lý Thắm hỏi:

-Chàng có thể tấu trình với Hoàng thượng để sung thêm thuyền, thêm quân?

Đội Nhất cầm tay Lý Thắm:

-Có chuyện cơ mật này, nàng phải giữ, tất cả thuyền chiến, và lực lượng thủy binh thiện chiến nhất nước Việt, Hoàng thượng đã cho ta rồi. Trong đất liền, chỉ còn một lực lượng mỏng hơn để phòng vệ thôi.

Lý Thắm thở dài:

-Ta yếu, chúng mạnh, Đất ta, cương giới của ta mà chúng lại tham lam đòi giành, đòi cướp. Sao trời không giúp ta?

Đội Nhất cứng rắn:

-Nàng yên tâm. Trời sẽ giúp ta. Trời sẽ giúp nước Việt.

Tể tướng Bắc triều sau khi kiểm tra các chiến thuyền, kiểm tra quân binh, thủy binh, thì vào gặp Hoàng thượng:

-Bẩm Bệ hạ. Ta có 2000 thủy binh với khí giới, cung nỏ đầy đủ, thuyền chiến chắc chắn. Ta lại vừa mới chế tạo được súng phun lửa. Lần xuất binh này, bệ hạ yên tâm, các đảo cương giới nước Việt sẽ thuộc về ta.

Hoàng thượng nói:

-Chưa xuất binh vội.

Tể tướng:

-Bẩm Bệ hạ…

Hoàng thượng:

-Khanh truyền Thánh chỉ của ta, cho dấy binh ở cương giới đất liền, vừa làm cho nước Việt ngỡ rằng, ta chưa đánh chiếm đảo, vừa gây hao binh lực của họ, thu hút lực lượng quân binh nước Việt ở cương giới đất liền, như vậy thì ta dễ dàng lấy đảo giới mà nước Việt không kịp trở tay.

Tể tướng:

-Bệ hạ anh minh.

Hoàng thượng hạ giọng:

-Thủy binh chia thành hai đoàn thuyền chiến, đoàn thuyền ít nhất giao Lý Bật chỉ huy. Đoàn thuyền lớn hơn, giao Hứa Văn chỉ huy. Nếu Đội Nhất và quân binh trên đảo ngoan ngoãn đầu hàng, tha, bắt làm tù binh, nếu chống cự chém hết, giết hết…

Tể tướng:

-Trên đảo giới nước Việt còn có cả nữ binh, dân binh thưa Bệ hạ.

Hoàng thượng phẩy tay:

-Giết.

Tể tướng:

-Có nên thông báo với sứ thần các nước việc này thưa Bệ hạ?

Hoàng thượng:

-Ta đã nghĩ tới… Không thông báo thì ta bị coi như tiểu nhân, nhưng thông báo rằng ta xuất binh chiếm đảo nước Việt thì sứ thần các nước lại coi ta  tiểu nhân hơn. Nhưng kệ, cứ chiếm đã.

Tể tướng:

-Bẩm Bệ hạ, thần tuân chỉ.

Hoàng thượng nước Việt thiết triều.

Quan thượng thư Bộ Binh bẩm báo:

-Bẩm Bệ hạ. Việc Bắc triều chuẩn bị cho thuyền chiến xâm chiếm đảo giới là đã nhìn thấy được. Ở cương giới đất liền, quân Bắc triều cũng bắt đầu cho nhiều lực lượng áp sát. Cương giới cả đất liền và biển đảo rất căng thẳng. Xin Hoàng thượng hạ chỉ.

Hoàng thượng nói:

-Ta biết rồi. Ngoài đảo giới, đại quan Đội Nhất và anh em cũng đã sẵn sàng nghênh chiến với giặc. Cương giới đất liền ta cũng đã sung quân. Nếu xảy ra binh biến, ta sẽ gặp thiệt hại rất lớn. Hiện tại, trí dũng ta có, khôn khéo ta có, nhưng chắc sẽ không địch nổi với quân Bắc triều. Né trận binh đao này nước Việt ta được lợi nhiều. Kéo hoãn cuộc xâm chiến của Bắc triều cũng là điều đáng làm. Ta không vì sự khiêu khích chuẩn bị của Bắc triều mà bị kích động.

Im lặng nhìn các quan quân, Hoàng thượng nói tiếp:

-Ta lại cần Lý Vân đi sứ Bắc triều lần nữa…

Phó tướng Thủy binh ngạc nhiên:

-Bẩm Bệ hạ, cuộc chiến chỉ còn trong gang tấc, đi sứ phỏng có ích gì? Hay Bệ hạ tính đến chuyện thỏa hiệp, phải giao nộp một phần cương giới cho Bắc triều để tránh binh đao?

Hoàng thượng cả giận:

-Khanh dám khi quân phạm thượng?

Phó tướng thủy binh cúi đầu:

-Xin Bệ hạ tha tội…

Hoàng thượng nhìn Lý Vân:

-Ta cần khanh đi sứ lần này, khéo nói, kiên nhẫn, khéo thuyết phục để Bắc triều hoặc là không tiến công, hoặc cùng lắm là trì hoãn cuộc chiến để nước ta có thêm thời gian sung quân, sung lực, kéo được yên bình cho thiên hạ ngày nào là tốt ngày đó. Khanh hiểu chứ?

Lý Vân khoanh tay:

-Bẩm Bệ hạ, thần tuân chỉ.

Hoàng thượng nhìn Lý Vân:

-Khanh còn điều gì cần nói với ta?

Lý Vân nói:

-Bẩm Bệ hạ… Thần không xem việc đi sứ lần này có thể chấm dứt được chiến tranh, cũng khó mà trì hoãn được cuộc xâm chiến đảo giới của Bắc triều. Nhưng việc Hoàng thượng cử thần đi sứ là rất cần thiết. Thần cần làm cho sứ thần các nước biết rõ được sự bội ước của Bắc triều, cái lòng tham lam vô độ của họ, bất cần lý lẽ, bất cần đạo lý của họ. Ở nhà, Bệ hạ cần dốc lòng đôn đốc anh em quân binh, thủy binh, phải đánh thắng.

Hoàng thượng gật đầu:

-Khanh nói phải lắm. Ta ít hy vọng Bắc triều dừng cuộc chiến, nhưng ta cần sự ủng hộ của các nước lân bang, ta cần cả sự vạch mặt chỉ tên của Lý Vân đối với Bắc triều để thiên hạ được tỏ tường. Cùng với việc này, nếu ta thắng thì sự bẽ mặt và xấu hổ của Bắc triều có thể không còn so sánh gì hơn nữa.

Lý Vân bái biệt Hoàng thượng lên ngựa.

-Ta lại gặp khanh? Hoàng đế Bắc triều nhìn Lý Vân- Ta cứ tưởng, ngày đó khanh chuồn theo thuyền nước Việt, không trở lại gặp ta là để tránh một sự trừng phạt vì đã làm bẽ bàng triều đình Bắc triều ta?

Lý Vân từ tốn:

-Bẩm Bệ hạ… Là  đại thần của triều đình, thì chết cho triều đình nào có hối tiếc… Nếu thần sợ chết, thần không qua gặp Bệ hạ thế này…

Hoàng đế Bắc triều nói:

-Khanh nói hay lắm… Lần này khanh sang là có việc gì? Vấn an ta? Xin ta tha mạng sống? Xin ta không gây chiến? Xin cống nộp đảo giới?

Lý Vân nói:

-Bẩm Bệ hạ… Bệ hạ cũng đã biết, ở đời, cái mình xin thì không có, cái mình có thì không được cho ai…

Hoàng thượng hậm hực.

Lý Vân nói

-Thần không phải đại thần của Bệ hạ, nên việc Bệ hạ làm gì thần không thể can gián nhưng cũng không ủng hộ. Thần chỉ tiếc một điều…

-Tiếc? Hoàng thượng Bắc triều ngạc nhiên

-Bẩm Bệ hạ… Bắc triều là nước lớn, không nước nào không ngưỡng mộ Bắc triều ta. Bắc triều lại có người thầy lớn, Khổng phu tử, người thầy không phải chỉ riêng Bắc triều mà còn với cả thiên hạ. Tiếc là trong khi cả thiên hạ học từng lời dạy của thầy Khổng phu tử để làm đúng việc đạo, việc đời, thì Bệ hạ lại làm trái với những gì Khổng phu tử đã dạy…

Hoàng thượng chồm tới:

-Khanh dám…

Lý Vân nhỏ nhẹ:

-Bẩm Bệ hạ… Khổng phu tử của Bắc triều là vạn thế sư biểu của thiên hạ, điều ấy ai cũng nể trọng và ghi tâm. Khổng phu tử dạy, người quân tử lấy nghĩa làm đầu, không vì lợi mà quên nghĩa. Khổng phu tử lại dạy, người quân tử không sợ kẻ mạnh, không hiếp kẻ yếu. Ngài lại dạy: Trong quan hệ bằng hữu, lấy chữ tín làm đầu.

Hoàng thượng:

-Đúng thế, đúng thế, đó lời của Ngài, của Khổng phu tử, thì sao, thì sao?

Lý Vân nói:

-Bậm bệ hạ, theo thiển ý của thần, việc Bệ hạ mong muốn chiếm lấy đảo giới của nước Việt là vì để được lợi, lợi cả tài nguyên của cải, lợi cả cái thế xâm lấn xuống các nước khác nữa trong khu vực, ấy là thấy lợi thì cố làm, không nghĩ đến tình nghĩa bang giao hai nước, không còn coi mình là quân tử,  khi đã cố làm thì sẽ bị trăm họ ca thán, thiên hạ dè bỉu. Nếu Đức Ngài Khổng tử sống lại, biết con cháu Ngài cố tình làm trái lời Ngài dạy, e  Bệ hạ không thể ngồi yên mà không bị phạt.

Hoàng thượng quay mặt đi.

-Bẩm Bệ hạ. Bắc triều là nước lớn, văn minh nhất thiên hạ, giàu có nhất thiên hạ, của nả, thần dân đông nhất thiên hạ, thế mà Bệ hạ lại đưa quân đi xâm chiếm đất đai của nước Việt nhỏ bé, há không phải là cố ý hiếp kẻ yếu sao? Há như vậy còn đâu chính nhân quân tử, còn đâu con cháu học trò của Khổng phu tử?

Vẫn không thấy Hoàng thượng Bắc triều bày tỏ thái độ, Lý Vân nói tiếp:

-Nếu thần không nhớ nhầm, thì cả trong văn tự, cả trong thánh chỉ gửi cho nước Việt, cả trong thư báo gửi sứ thần các nước, vừa rồi Bệ hạ đã xác tín cương giới nước Việt, có chữ ký của sứ thần, thế mà bây giờ Bệ hạ lại đùng đùng xuất quân chiếm đảo giới nước Việt, hóa ra là không coi chữ tín ra gì, hóa ra không còn vị trí đàng hoàng của người quân tử. Thấy Bệ hạ thất tín như thế, các vị tiền nhân, cả thầy Khổng tử liệu ngồi yên chăng?

Hoàng thượng cựa quậy trên long sàng.

Lý Vân khoanh tay kính cẩn:

-Xin Bệ hạ cho thần nói câu  cuối. Thần biết được Bệ hạ vì sao phải làm trái đạo lý, làm trái lương tâm, làm trái lời dạy của Khổng phu tử…

-Khanh còn biết cả việc ấy?

-Bẩm Bệ hạ. Biết trái đạo mà vẫn làm, biết thất tín mà vẫn làm chỉ là vì thế này thôi: Như Bệ hạ cũng biết,  nếu một đứa trẻ tỏ ra vô lễ với người chung quanh, người đời chửi: đồ mất dạy. Chửi là vì cha mẹ đứa bé đã không biết dạy con những qui ước giao tiếp xã hội, không dạy chúng những điều hay lẽ phải, nên chúng hành xử trái với đạo đức xã hội. Hoặc chính cha mẹ chúng cũng không biết điều hay lẽ phải. Nếu nghe câu chửi này, có thể thầy Khổng tử sẽ vô cùng đau đớn. Thứ nữa, là cũng chính do Bệ hạ thấy cô độc. Cô độc vì những điều Bệ hạ đang hành xử đều không có nước nào ủng hộ. Làm trái mà không biết sửa, không biết nghe, dù biết cô độc vẫn cứ làm thì sẽ cuồng. Hoặc Bệ hạ biết trái vẫn làm vì tưởng thế là anh hùng thiên hạ. Nhưng đó là thứ anh hùng bánh vẽ, các nước lân bang và cả nước Việt của thần không tâm phục, khẩu phục, không hề tôn kính cái thứ anh hùng kiêu ngạo ấy. Nhưng thần thì thấy có thể Bệ hạ làm vậy đôi khi lại do bệnh lý, do di truyền, đời Hoàng đế này đến Hoàng đế khác của Bắc triều, chưa Hoàng đế nào ngưng xâm chiếm nước Việt. Nếu có bệnh lý ấy thật, e hết thuốc chữa.

Lý Vân nói xong, nhẹ nhàng cởi bao kiếm, dâng lên trước mặt Hoàng thượng Bắc triều:

-Trên đường sang gặp Bệ hạ, thần nghĩ, thần có thể nói để Bệ hạ ngưng cuộc binh đao, hai nước hòa hiếu, an bình, được lợi cho con dân trăm họ. Nhưng giờ thì thần biết, rồi đây máu của quân binh, thủy binh hai nước sẽ nhuộm đỏ biển khơi cương giới. Hôm nay Bệ hạ có thể thỏa mãn cướp được đảo nước Việt, nhưng mai này, con cháu nước Việt không quên việc này, sẽ lấy lại, sẽ đưa Bệ hạ ra mắng chửi và căm ghét. Bệ hạ muốn xuất binh cứ xuất binh. Quân binh thủy binh nước Việt có câu này xin gửi tới Bệ hạ: dù phải nhuốm đỏ máu ở biển khơi thì đảo giới nước Việt vẫn mãi là đảo giới nước Việt. Nói được với Bệ hạ thế, thần cũng thấy đã xong việc, nếu Bệ hạ muốn chém thần xin hãy dùng kiếm này.

Hoàng thượng Bắc triều liếc nhìn cây kiếm trên tay Lý Vân đang dâng lên thì xua tay:

-Ta tha chết cho ngươi. Giết tướng thì còn hy vọng quân sợ. Giết nhà nho các ngươi, giết người này mọc ra người khác, chém đầu người có thể đứt, chém chữ sao đứt.

Lý Vân thu kiếm:

-Bệ hạ anh minh.

Hoàng thượng nói:

-Nhưng những câu nói khích kháy, châm chọc, thọc sườn của khanh ta không quên được. Sao nước Việt nhỏ bé mà sinh được ra khanh?

Lý Vân vừa lùi ra vừa nói:

-Bẩm Bệ hạ… Bệ hạ quá khen, thần cũng chỉ là một thảo dân ngu muội thôi… Xin bái biệt Bệ hạ.

-Khoan đã- Hoàng thượng Bắc triều nói to- Khoan đã. Không phải ta tha tội chết mà khanh vội bái biệt.

Lý Vân dừng bước:

-Bẩm Bệ hạ, còn có chuyện gì dạy bảo?

Hoàng thượng nhìn Lý Vân:

-Hoàng thượng nước Việt sai khanh sang xin ta không xuất binh, hủy trận chiến, khanh không làm được sao không thấy sợ hãi?

Lý Vân nói:

-Bẩm Bệ hạ, không ai đi khuyên kẻ đang muốn đánh mình mà chắc rằng họ sẽ thu kiếm. Thần sang đây trước là để cho Bệ hạ biết quyết tâm của nước Việt, không để mất đất đai cương giới vào tay ai, cũng không chịu hèn trước ai, nếu phải xảy ra cuộc chiến, còn một người vẫn đánh. Sau nữa là thần cũng muốn vấn an sứ thần các nước, để họ biết rõ rằng, Bắc triều của Bệ hạ đang chuẩn bị xâm chiếm đất đai cương giới của nước Việt để các nước lân bang biết thế mà cảnh giác, không quá tin vào lời cam kết hứa hẹn hữu hảo của Bệ hạ.

Hoàng thượng nín lặng.

Lý Vân cũng im lặng.

Tiếng Hoàng thượng bé lại:

-Ta cho khanh lui.

Lý Vân bước ra. Thấy trước cửa đại điện đã có cỗ xe ngựa chờ sẵn. Người đánh xe là một người lính. Lý Vân lên xe. Xe ngựa chạy băng băng ra khỏi kinh thành.

Lý Vân đột ngột thở dài:

-Ta thấy có âm khí nặng quá.

Tên lính đánh xe ngựa ghìm dây cương hoảng hốt:

-Ngài nói vậy là sao?

Lý Vân cả cười:

-Người ta vẫn truyền nhau điều này, nếu ai đó mà lén lút giết ai đó thì con cái người đó sẽ cúi mặt cả đời, gia đình tang tóc, cha mẹ không chết vì bất đắc kỳ tử thì cũng chết vì sét đánh…

Người lính đánh xe ngựa tần ngần nhìn Lý Vân:

-Ngài nói vậy là ngài biết cả… Con chỉ là thằng lính trong nội điện, thân phận thấp hèn, chỉ biết y lệnh, không có quyền thả ngài mà cũng không có quyền không giết ngài…

Lý Vân:

-Than ôi, ta biết, ta không trách ngươi nhưng chắc trời đất không buông tha…

Người lính run rẩy:

-Nếu con tha cho ngài thì con cũng chết… Chi bằng con chịu đau để ngài sống mà con không bị trời đất nguyền rủa…

Lý Vân ngạc nhiên:

-Ý ngươi là sao?

Người lính lấy kiếm, chém vào cánh tay mình:

-Con biết ngài là bậc nho sĩ nổi danh nước Việt. Con phụng mệnh Hoàng thượng đưa ngài về là để giết ngài trên đường. Nhưng giết ngài thì con không đành. Con phải chém vào tay để coi như ngài đã chém con, ngài chém con rồi ngài cướp xe về nước Việt.

Lý Vân cảm động:

-Hãy theo ta về nước Việt, ta bảo đảm ngươi sống yên ổn, vì công ngươi cứu mạng…

Lý Vân lấy vải băng bó vết thương cho tên lính.

Chiếc xe ngựa cứ hướng về cương giới nước Việt phi nước đại.

Thuyền chiến xếp hàng ra khơi.

Nhóm thuyền đầu tiên do Lý Bật chỉ huy.

Cách đó một quãng, nhóm thuyền thứ hai cũng xuất bến, do Hứa Văn chỉ huy.

Trên thuyền đông đặc thủy binh, quân binh. Trên mũi thuyền là những khẩu súng lửa vừa được sản xuất.

Cung nỏ, dao kiếm tua tủa trên tay những thủy binh, quân binh Bắc triều.

Trong thuyền, còn chất đầy những cột gỗ lim rất dài, vuốt nhọn, khắc chữ Bắc triều để chiếm được đảo nào thì chôn cột mốc ở đảo đó.

Mấy ngày qua, quân binh thủy binh được ăn uống thả sức. Đêm thì có bọn ca nữ phục vụ. Chưa lúc nào xuất quân mà rộn ràng như thế, khí thế như thế, chuẩn bị đầy đủ như thế.

Trước ngày cho thuyền xuất binh, Hoàng đế Bắc triều làm hai việc cuối cùng. Một là viết thư gửi Hoàng đế nước Việt, chia buồn về việc do tai nạn mà Lý Vân đã tử, cả xe và người đều mất hút dưới vực sâu. Đó là ý trời, mệnh trời, số mạng Lý Vân, Bắc triều rất lấy làm cảm kích. Hai là Hoàng thượng gặp mặt sứ thần các nước nói rằng, do thủy binh đảo giới nước Việt ỷ vào việc đóng chốt trên biển nên đã làm càn, cướp bóc thuyền buôn Bắc triều nên Bắc triều phải xuất quân trừng trị. Một số quan đại thần có nói, Hoàng thượng dựng chuyện vậy e không ai tin. Nhưng Hoàng thượng nói, tin hay không là tùy, việc có cái cớ để xuất binh mới quan trọng. Nghe Hoàng thượng tuyên bố vậy, không quan quân nào nói gì nữa.

Tiểu Tiểu mang kiếm bên hông, bước tới bên Lý Bật:

-Ngài là người Việt lại được làm phó tướng, ta là người Bắc triều chỉ làm dưới quyền, Hoàng thượng thật không công bằng.

Lý Bật nói:

-Ta là phó tướng mà đôi khi lại bị người dưới quyền ta giám sát, Hoàng thượng làm vậy mới thực công bằng.

Tiểu Tiểu cười ha hả:

-Ngài nói hay lắm, nói hay lắm, biết mà làm như không biết mới gọi là biết.

Lý Bật nói:

-Đảo Nước Lửa thì ta và phó đô đốc không lạ, đánh một lần thua rồi, nay đánh lần nữa e cũng không chắc thắng, liệu mà giữ lấy mạng sống.

Tiểu Tiểu rút kiếm ra, ngắm nghía:

-Mạng sống ta nằm ở lưỡi kiếm này…

Lý Bật cả cười:

-Còn mạng sống ta nằm trong tay Hoàng thượng.

Tiểu Tiểu nheo nheo mắt nhìn Lý Bật rồi bước đi.

Chòi canh trên đảo lúc nào cũng có lính đứng quan sát.

Và bây giờ thì âm thanh báo động từ cái vỏ ốc được thổi đã vang lên. Âm thanh mà Đội Nhất không mong muốn nghe đã vang lên.

Từ xa tít ở chân trời, lính gác chòi canh đếm được gần 30 con thuyền chiến của Bắc triều.

Đội Nhất bàng hoàng.

Ba mươi con thuyền chiến của Bắc triều là mang theo mấy ngàn binh lính?

Đội Nhất đưa vỏ ốc lên thổi.

Các đảo đều báo động nối nhau.

Các quân binh, thủy binh chạy ào ra ra các vị trí đã được bố trí từ trước.

Đội lặn đang ngồi với  Đội Nhất để đợi thuyền chiến của Bắc triều tới gần hơn.

Mặt trời đã chênh chếch hạ xuống.

Trên biển, trên đảo, ánh sáng màu huyết dụ đã phủ tràn.

Đội Nhất cầm quân ở đảo Nước Lửa. Lý Đạt cầm quân ở đảo Ốc. Huệ Hương cầm quân ở đảo Hút. Lý Thắm cầm quân ở đảo Vú Mẹ…

Tất cả các đảo đều đã sẵn sàng.

Lý Thắm cố bước lên đỉnh cát nhìn ra biển khơi. Xa lắm, rất xa, bóng những chiến thuyền của Bắc triều đang lúc khuất lúc hiện trên từng lớp sóng.

Đột nhiên, Lý Thắm cúi gập người xuống. Một cơn đau nhẹ.

Lý Thắm thì thầm: Con ạ, từ từ con nhé… Mẹ và cha con đang phải tham chiến trận này…

Từ mấy ngày trước, Đội Nhất đã cho treo cờ nước Việt lên tất cả các đảo. Đảo nào cũng có một cột cờ làm bằng cột tre mang từ đất liền ra. Trong ánh nắng chiều ta, màu hồng đỏ của nắng trời, cùng màu cờ đỏ như máu trên đảo, nhìn đã thấy trong lòng hào hứng và dâng ngập cảm xúc.

Đội Nhất đã bàn bạc với Lý Đạt, bằng mọi giá cũng phải bảo vệ được đảo, thế cùng thì rút hết về giữ lấy đảo Vú Mẹ rồi phản công chiếm lại đảo. Hôm qua Đội Nhất cũng đã cho người lên thuyền về nước Việt, có bao nhiêu của cải quý giá thu lượm được trên các đảo đều mang về hết. Đội Nhất cũng đã viết thư cho Hoàng thượng, lá thư mà nếu rồi đây vì trận chiến này phải chết, thì những dòng thư cuối cùng ấy cũng muốn cho Hoàng thượng và nước Việt hiểu rằng, cái chết của Đội Nhất và anh em là để đảo cương giới còn mãi với nước Việt, không ai có thể chiếm đoạt được.

Đã bắt đầu nhìn thấy ánh vàng trên các đảo cát của nước Việt. Tiểu Tiểu hô hét cho quân binh, thủy binh chuẩn bị sẵn sàng. Lý Bật liếc mắt nhìn mấy khẩu súng phóng lửa rồi bí mật dùng nước đổ vào mấy cái máng thuốc nổ. Đang làm thì một tên lính nhìn thấy định la lên, nhanh như chớp, Lý Bật xộc mũi kiếm vào cổ hắn và kéo dìm xuống sau bánh lái thuyền.

Hứa Văn cho thả những thuyền nan con xuống kẹp bên hông thuyền để tiện cho việc quân lính tấn công vào đảo.

Hứa Văn nhìn về nhóm thuyền chiến của Lý Bật, quay sang nói với Khắc Ngôn:

-Thuyền ấy chỉ dùng để đánh lừa cả Lý Bật và quân binh Đội Nhất. Thuyền chiếm đảo chính vẫn là đoàn thuyền của ta, ngươi hiểu chứ.

Khắc Ngôn gật đầu:

-Bẩm ngài con hiểu.

-Tao không tin Lý Bật. Mày tin hắn không?

-Bẩm ngài, không.

Hứa Văn gật đầu hài lòng:

-Hảo. Không tin ai ngoài bản thân mình. Huống chi hắn là người Việt. Không tin được.

Khắc Ngôn nói:

-Nếu cần, ngài cho con giết hắn để trừ hậu họa lâu dài.

Hứa Văn lắc đầu:

-Hoàng thượng giao cho hắn mấy thuyền chiến ấy là giao cho hắn cái chết rồi, khỏi phải ra tay. Hoàng thượng sáng suốt.

Khắc Ngôn không hiểu. Hứa Văn cười lớn.

Các thuyền chiến Bắc triều bắt đầu hướng tới đảo. Đội Nhất nói đúng, cả ba đảo đều nhận thấy mũi thuyền chiến của quân Bắc triều hướng tới: đảo Nước Lửa, đảo Hút và đảo Ốc.

Trên các đám rau muống biển dọc chân đảo, phía dưới đều có các thủy binh ẩn náu.

Đội lặn nằm ép sau một ghềnh đá san hô để đợi thuyền của giặc áp sát.

Đội Nhất nhìn thấy đoàn thuyền ít hơn hướng thẳng tới đảo Nước Lửa, còn một đoàn thuyền rất lớn, nhung nhúc quân binh thì hướng tới đảo Ốc, đảo Hút.

Đội Nhất cảm thấy lo lắng.

Ở đảo Vú Mẹ, trên đỉnh cát, Lý Thắm đứng nhìn, hai tay ôm lấy bụng bầu, mắt nàng không chớp.

Chỉ cần nhìn đoàn thuyền chiến của Bắc triều đang rùng rùng tiến vào áp đảo, đầy hung hãn, nàng tự thấy một tai họa lớn đang tới.

Mấy cô gái chạy tới, đứng bên cạnh.

Lý Thắm nói:

-Các em chuẩn bị thuyền để ứng cứu. Quân giặc quá đông.

Các cô gái vội lao về mép đảo, kéo những con thuyền nhỏ trong hốc đá ra, sẵn sàng đợi lệnh.

Đã nhìn thấy cờ quạt của quân Bắc triều.

Đã nghe thấy tiếng thanh la, tiếng kèn hú lên từng hồi trên thuyền chiến của giặc.

Hình như gió trên đảo cũng ngừng thổi.

Cả những con còng gió cũng nằm im trong hang cát.

Trên tất cả các đảo, hàng trăm các chiến binh nước Việt đang đợi giặc.

Đảo dưới chân họ.

Cờ chủ quyền cương giới trên đầu họ.

Cột mốc cương giới ở bên cạnh họ

Lý Bật im lặng lệnh cho lính neo giữ chặt gần bảy con thuyền trong đoàn thuyền do mình chỉ huy, dùng khóa sắt móc néo thuyền này qua thuyền khác trước khi thả neo cập kề đảo Nước Lửa. Tiểu Tiểu mải chỉ huy quân ở mũi thuyền chuẩn bị xuống các thuyền con nên không quan sát việc buộc néo thuyền của Lý Bật.

Lúc đầu, các thủy binh Bắc triều còn theo lệnh Tiểu Tiểu xuống thuyền con vào, sau thấy lâu quá, Tiểu Tiểu lệnh cho thủy binh lao xuống biển bơi vào đảo. Các thuyền con dùng để chở những khẩu súng phun lửa.

Một quãng biển ngắn từ thuyền vào đảo phút chốc đã nhung nhúc thủy binh Bắc triều. Tiểu Tiểu ngồi trên con thuyền nan, vừa vung kiếm lên trời vừa hét dồn cả ngàn tên lính nhanh nhanh lên đảo: Tả lơ. Tả lơ. Tả lơ.

Hàng nghìn tên lính cùng đồng thanh hô to: Tả lơ. Tả lơ. Tả lơ.

Nhung nhúc quân.

Nhung nhúc gươm giáo.

Nhung nhúc những cái đầu lính.

Rền vang những tiếng Tả lơ.

Nhưng Tiểu Tiểu thoáng giật thót, khi thấy đảo im lìm đến mức tưởng như đảo hoang, không có người nào.

Hàng ngàn tên lính sau những tiếng hô tả lơ khản cả tiếng cũng đột ngột ùn lại với nhau vì thấy đảo vắng teo, không bóng người, không kháng cự.

Tiểu Tiểu nhìn lại, thấy Lý Bật vẫn đứng trên thuyền, dáng vẻ oai phong lẫm liệt, miệng vẫn hò hét hai tiếng Tả lơ thì lấy làm yên tâm, lại xua lính nhanh nhanh ào lên chiếm đảo.

Bắt đầu nghe tiếng la ó. Mấy trăm tên lính đầu tiên chạm vào đảo bị sập hầm, dưới đó là những mũi tên vót nhọn có tẩm độc. Dưới hầm còn dựng lên tua tủa những mũi giáo nhọn. Có những tên lính sụp hố, mũi giáo đâm dọc từ dưới thân lên tận cổ, máu đỏ vọt thẳng lên trời, phun vào cả mặt thằng bên cạnh. Bọn lính hoàng sợ lùi lại, để mặc cho hàng trăm nhân mạng đang giãy dụa chết dần dưới hố sâu, chúng men theo chân đảo, lần mò tới các đám rau muống biển để tránh bị sập hố. Bất ngờ, dưới những đám rau muống biển im lìm ấy, hàng mấy chục thủy binh nước Việt nhoài lên, thúc ngược lên, rồi thì giáo mác vung thẳng, chém xa xả vào đám quân Bắc triều. Người rời đầu, kẻ lìa tay, kẻ nát bụng, máu đỏ trào ra, thân người ngả xuống, những bãi cát vàng phút chốc đỏ lòm. Hai bên ào ào xô vào nhau. Quân thủy binh Đội Nhất sau phút bất ngờ phản công thì lẹ làng rút chậm để nhử cho thủy binh Bắc triều ào ào đuổi theo. Lại sập hố bẫy. Lại la ó. Lại phóng vút lên những dòng máu đỏ. Thủy binh Đội Nhất cũng đã có thương vong, có nhiều người trúng tên độc đã ngã xuống. Ngay khi đó, khi mà quân Bắc triều đang ùn ùn vón cục lại đông như kiến cỏ thì lửa ở đâu từ bốn phía bốc lên ngùn ngụt, vây kín chúng lại. Chỉ riêng việc quân lính đạp lên đầu nhau quẫy cựa trong lửa cũng đã tự chúng giết chúng tính cả mấy trăm người. Sau những mô cát, hàng chục tay cung của thủy quân nước Việt bắt đầu tấn công. Quanh là lửa cháy, dưới là hố bẫy, trên đầu bị giáo mác chém xa xả, trước mặt thì cung tên bắn tới, quân thủy binh Bắc triều chết như ngả rạ, thân xác những tên lính chồng lên nhau. Tưởng thế là thủy binh nước Việt đang thắng thế, nhưng không thể ngờ, bắn mấy, chém mấy cũng không ăn thua với sóng người ùn ùn tiến vào, đông không đếm xuể.

Súng phóng lửa của thủy binh Bắc triều đã không bắn được, thuốc súng đã ẩm nước.

Nhóm thủy binh ở đội lặn do Đội Nhất chỉ huy lặng lẽ gieo người vào biển. Trong chốc lát, các thủy binh đã bám chắc mạn thuyền của quân Bắc triều. Các thủy binh nước Việt dùng kiếm nhọn, giáo mác đâm thủng thuyền, nước biển chảy vào thuyền ồ ồ như vỡ đê. Số nữa thì bắt đầu trèo lên thuyền, châm lửa đốt. Từng con thuyền chiến không mấy chốc như những bó lửa lớn.

Đội Nhất cố tìm Lý Bật.

Lý Bật thì đang hò hét Tả lơ tả lơ nhưng vừa hét vừa đưa kiếm chém rất nhiều những tên lính còn chưa kịp nhảy xuống vào đảo.

Tiểu Tiểu đã nhận ra điều gì khác lạ ở Lý Bật, một mặt tiếp tục hò hét binh lính chiếm đảo, một mặt im lặng theo thuyền nan áp sát thuyền chiến, rồi bí mật quan sát hành tung của Lý Bật. Lý Bật vung kiếm chém xa xả lính của mình đồng thời đã nhìn thấy thuyền cháy, thuyền chìm, nhìn thấy cả bóng Đội Nhất thấp thoáng ở bên kia thì lấy làm vui sướng. Nhưng ngay lúc đó, Tiểu Tiểu đã đứng trước mặt Lý Bật:

-Ngươi là tạo phản.

Lý Bật:

-Không. Người nhầm rồi. Ta không tạo phản, ta là người nước Việt.

-Ta đã nghi ngờ lâu rồi, giờ thì ngươi rõ là tạo phản.

Lý Bật cả cười:

-Ta bảo vệ nước Việt mà tạo phản a?

Nói rồi thì vung kiếm. Tiểu Tiểu né đường kiếm của Lý Bật đồng thời nhún chân đưa một đường kiếm đến loáng mắt, cánh tay của Lý Bật bị cắt rời, văng xuống biển, chìm xuống biển, để lại một vũng nước đỏ máu. Lưỡi kiếm thứ hai của Tiểu Tiểu lại vung lên nhưng bất ngờ bị lưỡi kiếm khác chém xả, văng khỏi tay và một nhát kiếm nữa đâm thẳng vào ngực Tiểu Tiểu. Tiểu Tiểu lộn đầu xuống biển.

Đội Nhất ôm lấy Lý Bật:

-Ngài cố gắng nhé… Ta sẽ băng bó…

Lý Bật:

-Ta tự lo được… Ngài hãy chỉ huy anh em giữ đảo…

Đội Nhất nói:

-Thuyền sắp chìm, ngài phải theo ta rời thuyền

Lý Bật nói:

-Không được. Không nên vì ta. Nếu ta chết, xin hãy ghi vào Thánh chỉ của Bệ hạ còn để trống cho tội tạo phản của ta rằng, ta đã chết vì Bệ hạ, vì nước Việt.

Nói rồi, Lý Bật lao xuống biển, trườn người về đám quân lính Bắc triều đang lúc nhúc tiến vào đảo, chém xa xả, chém xa xả cho tới khi gục xuống, trên thân thể của chàng đầm đìa máu.

Cả trăm tên lính Bắc triều đang vây chặt Đội Nhất. Thuyền đang chìm. Lửa cũng đang cháy. Những tên lính hằm hằm nhìn Đội Nhất rồi lao vào hét: Tả lơ. Tả lơ.

Đội Nhất vung kiếm.

Thủy binh Bắc triều dồn Đội Nhất về mũi thuyền.

Lưng tựa vào thành thuyền, hai tay hai kiếm, Đội Nhất chém vào mặt từng tên một, số bị vào mặt, số bị vào ngực, số bị vào tứ chi, xác bọn lính rơi xuống biển như rạ.

Đội Nhất nhún người, lao xuống biển, mang theo trên mình nhiều vết thương, chàng lặn sâu xuống, thoát khỏi vòng vây.

Tụi lính Bắc triều sau khi đã vượt qua bẫy hầm, bẫy lửa thì ùn ùn vây chặt anh em thủy binh ở trung tâm đảo. Sau lưng chúng, các chiến thuyền đã bốc cháy, đã chìm, đã ngả đổ xuống biển, trước mặt chúng là thủy binh nước Việt. Không còn đường lùi, không còn lựa chọn, cả ngàn tên lính lao tới.

Các thủy binh nước Việt lưng tựa vào nhau, tựa vào cột mốc giới ở trung tâm đảo, chém xa xả vào quân Bắc triều. Cuộc chiến không còn cân sức. Thủy binh Bắc triều cứ ùn ùn đến từng lớp, từng lớp, người chồng lên người. Dưới cột mốc chủ quyền, xác các thủy binh nước Việt chết chất đống lại, quấn lấy nhau, người này quấn lấy tay người kia, quấn chặt lấy chân cột mốc giới, như đá, như đất, như sắt, như thép, khiến cho thủy binh Bắc triều cũng phải hoảng hốt dừng lại.

Hứa Văn nhìn thấy đoàn thuyền chiến của Lý Bật tấn công đảo Nước Lửa đang ngụt cháy thì hoảng sợ, vội vã xua quân ào ào vào đảo Ốc, đảo Hút. Không thể đếm được là bao nhiêu quân. Trong từng con thuyền chiến, thủy binh Bắc triều cứ ùn ùn xuất hiện, phút chốc, cái màu vàng của đảo Ốc, đảo Hút mất biến, chỉ còn lại màu áo của thủy binh Bắc triều đang di chuyển, đang la hét, đang vung kiếm vung gươm.

Lý Đạt thét gọi anh em không sợ, cứ lao tới, cứ chém, phút chốc thủy binh nước Việt và thủy binh Bắc triều như trộn lấy nhau, gươm kiếm loang loáng, máu đỏ chảy ào ào, xác người chồng chất. Lý Đạt liếc mắt nhìn thấy Hứa Văn đang nép mình sau ghềnh đá, thét giục quân lính chiếm đảo thì chàng lăn mấy vòng, luồn người qua những xác chết đang chồng chất lên nhau, rồi bất ngờ nhảy dựng lên, dùng hết sức mình, chém một nhát kiếm vào đầu Hứa Văn, đầu Hứa Văn chẻ đôi, máu, óc phóng vọt lên cao. Nhưng cũng ngay lúc đó, một tên thủy binh Bắc triều kịp đâm một nhát kiếm vào ngực Lý Đạt. Lý Đạt cố ôm lấy vết thương, chạy về cột mốc giới. Lý Đạt nhìn quanh, anh em đã giết chết không biết cơ man nào là lính Bắc triều nhưng lính Bắc triều quá đông, cũng đã giết hết anh em. Còn Lý Đạt là đang thoi thóp sống. Chàng lết đến bên cột mốc, hay tay cầm lấy cột mốc gắng sức đứng dậy. Thủy binh Bắc triều xô tới, chém xa xả vào Lý Đạt, thân hình chàng bị băm nát  nhưng hai cánh tay chàng thì giữ chặt lấy cột mốc, và chàng vẫn nhìn thấy rõ ràng lá cờ Nước Việt  bay phần phật trong gió, bay phần phật, ngạo nghễ, mạnh mẽ trong mắt chàng.

Huệ Hương quên mình là đàn bà, kiếm sắc trong tay, nàng cùng anh em lao về phía thủy binh Bắc triều, vừa chém, vừa hét, bóng nàng như một mặt trời đỏ, chói sáng tinh thần, khiến cho cả đám lính Bắc triều phải khiếp đảm. Dân binh, thủy binh, nữ binh, tất cả đều dồn lên cùng Huệ Hương. Và tất cả đều ngã xuống. Huệ Hương cũng ngã xuống, kiếm vẫn tư thế vung lên trời.

Lý Thắm đã ra lệnh điều hết mọi người sang chi viện cho các đảo.

Và bây giờ chỉ còn một mình nàng.

Từ trên đỉnh Vú Mẹ, nàng nhìn thấy khói lửa, nàng nghe vẳng đến tiếng la hét, nàng cảm thấy như tim mình đang bị xé nát trong nỗi đau đớn.

Hai tay đỡ lấy cái bụng chửa, nàng đứng nhìn mà nước mắt đầm đìa.

Nhưng khi ấy thì trời đất đột ngột chuyển mình, mây đen ùn ùn kéo tới, rồi một cơn lốc từ khơi xa ào ào xô vào đảo.

Lý Thắm chồm người vào một hốc cát, nằm im, chịu cho từng cơn gió mang cát xát mạnh qua người.

Bão tố kinh khủng.

Tất cả lều bạt trên đảo bị cuốn đi.

Những chiến thuyền của Bắc triều phút chốc bị gió bão vặn xoắn lại, hất tung ra biển.

Gió bão chà lên từng đảo, hất tất cả người sống, người chết ra biển.

Những con sóng lừng lững từ ngoài khơi tiến vào, như cái chổi lớn, quét hết mọi thứ trên các đảo ra biển khơi.

Chiến trận kết thúc trong sự cuồng phong của lốc tố.

Chiến thuyền mất hút trên biển. Xác thủy binh Bắc triều, xác thủy binh nước Việt cũng mất hút trên biển, các đảo chỉ còn cát, trơ trơ cát, vắng hoang vắng ngắt. Chỉ có ở đảo Nước Lửa, ở chân cột mốc, còn một số xác thủy binh nước Việt quấn chặt vào cột mốc, gió bão không thổi bay được, không cuốn đi được. Còn lại ở chân cột mốc đảo Ốc, xác Lý Đạt vẫn đấy, quấn chặt vào chân cột, cưỡng lại sự chà xát khủng khiếp của cơn lốc lớn.

Ngay lúc ấy thì Lý Thắm đau quặn từng cơn.

Nàng cảm tưởng như nỗi đau đang kéo nàng bổ sấp xuống cát.

Bão tố đã bớt sự mạnh mẽ nhưng vẫn chà xát mạnh trên mặt đảo.

Nàng biết, cái giây phút sinh nở đã tới.

Nàng lết người đi trong cát, cái đỉnh bụng cà thành từng cái hào nhỏ trên cát mịn. Nàng vớ phải một nắm vỏ ốc li ti. Nàng nắm lấy cái vỏ ốc, cào mạnh lên bụng mình, cào cho thật đau để giảm cái nỗi đau sinh nở đang ùa tới.

Nàng lết thân mình trong gió bão, trong mưa lớn, kéo nỗi đau sinh nở đi từng đoạn ngắn, hy vọng về tới được chỗ ở của mình.

Nàng còn không biết anh em trên đảo hiện giờ ra sao, không biết tính mạng Đội Nhất hiện giờ ra sao, nhưng đứa con này thì nàng phải bảo vệ, nàng phải sinh thành an toàn, đó là của Đội Nhất, của đảo, của anh em, của nước Việt.

Nàng gục đầu xuống, miệng cắn đầy cát, nhai cát rau ráu, rau ráu, cố hét lên thật to cho bớt đau. Tay nàng vịn vào được cái vỏ ốc lớn nhất trên đảo mà nàng đã dùng nó để hứng nước. Cái vỏ ốc thật lớn, đựng đầy nước. Nàng kéo người áp tới bên cái vỏ ốc, rồi dùng hết sức đổ nước trong vỏ ốc ra. Nàng cởi áo, lau sạch ruột vỏ ốc, lót cái áo của mình đang mang vào vỏ ốc.

Một cơn đau giật khiến nàng như có thể cắn phải lưỡi.

Nàng đưa hai tay xuống dưới, đỡ lấy sinh linh bé nhỏ đang nhào ra.

Nàng bế lấy con. Một thằng con trai đỏ hỏn, ướt nhẽm trong tay nàng và đang khóc rất to.

Nàng đưa miệng cắn cho đứt cái đoạn nhau dính trên bụng thằng bé.

Nàng đưa lưỡi liếm sạch những vết nhơ bẩn, nhớp nhúa trên thân thể con rồi đặt nó vào trong lòng vỏ ốc lớn.

Nàng vừa lết, vừa kéo vỏ ốc về phía chỗ ở.

Nhưng chỗ ở cũng đã bị gió bão cuốn mất.

Nàng quay lại, còn lại một nơi nàng có thể nương tựa vào đấy, đó là hốc đá nằm dưới chân cột mốc giới.

Nàng kéo con trong vỏ ốc tới chân cột mốc giới.

Gió đã bớt thổi.

Mưa cũng đã bớt.

Bão tố cũng đã tan dần

Có ánh hồng bật sáng lên phía chân trời.

Lý Thắm đứng lên, bế trong tay cái vỏ ốc với đứa con trai nhỏ, mắt nàng tan tác nhìn khắp đảo.

Từ rất xa, nàng nhìn thấy một cái gì đó đang động cựa.

Nàng nhìn kỹ hơn.

Bóng hình đó đã đứng lên được.

Nàng như khịu chân xuống vì sung sướng và hạnh phúc.

Nàng muốn reo lên mà cổ họng nghẹn ứ lại.

Trước mặt nàng là Đội Nhất.

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: