LỜI THỀ


TỔ QUỐC
(trích tiểu thuyết LỜI THỀ sắp xuất bản)
Lời tác giả: Nhà văn không tạo ra được chứng cứ bản đồ, thư tịch, nhà văn đồng hành với thân phận con người. Cuốn tiểu thuyết này là luận chứng về thân phận người Việt đã sống truyền đời trên quần đảo cát vàng mà hậu thế đặt tên là HOÀNG SA. Cuốn tiểu thuyết này ghi lại lời kể của những sinh linh đã sống, đã chết, đã tồn tại đời đời kiếp kiếp trên Hoàng Sa, những sinh linh gốc Việt. Cương giới Việt ở đây là bằng xương cốt của nhiều thế hệ, vì thế nên cát mới vàng, màu vàng của xương cốt, của hồn vía, tầng tầng lớp lớp xương cốt Việt ở đây đã dẫn đường cho nhà văn tìm đến, để nghe họ kể lại, và ghi ra đây bằng tất cả những gì mà nhà văn cảm được, thấy được, nghe được. Cuốn tiểu thuyết bắt đầu lần theo những dấu chân người Việt cổ đầu tiên đặt lên quần đảo cát vàng, khi ấy quần đảo hoang vu, quần đảo mồ côi mà người Việt đã phát hiện, đã đặt tên, đã đưa hình hài nó vào hình hài Tổ Quốc.
Kh.24-2
—–
Đảo không nghe một âm thanh nào hết, cả tiếng chim hải âu cũng như nén lại.
Ráng chiều đã xuống. Thứ ánh sáng màu hồng chiếu xiên qua đảo, chiếu xiên qua gương mặt của các thủy binh, dân binh. Trên từng gương mặt của họ, màu hồng của nắng như làm căng lên những gò má vốn đã cháy nắng, những gương mặt giờ hồng rợng lên, đẹp như những thiên thần lửa, lấp lánh những giọt mồ hôi nhìn như những hạt ngọc.
Đội Nhất ngắm nhìn quân binh của mình, ngắm nhìn các chàng trai đang sẵn sàng vào thế trận, ngắm nhìn họ trong ráng chiều tà, trong cái thứ ánh sáng màu hồng ấy, màu hồng như màu cờ, và hàng trăm đôi mắt như đang đỏ rực lên nhìn về phía đoàn thuyền chiến- hàng trăm mắt đảo.
Tổ Quốc hiện ra chói ngời, trong vắt, rừng rực lửa trong những đôi mắt người Việt đang bám bên nhau, trụ bên nhau, người trong tay người, người trong cát đảo, đảo và người trong nhau thành một khối, tất cả đều đang nhuốm hồng trong ráng chiều, cảm tưởng như các đảo đều là những quả cầu đỏ.
Tổ Quốc đôi khi chỉ là con còng gió, chạy trên cát vàng, trong ráng chiều, chạy tự do trên hòn đảo, đơn giản như vậy thôi, nhưng đó là con còng gió của nước Việt trên đảo của nước Việt, nơi mà Đội Nhất phụng mệnh hoàng thượng trấn giữ và bảo vệ.
Tổ Quốc đôi khi như những vạt rau muống biển, nở hoa màu tím, mọc dày trên cát, thứ rau muống dại không dễ ăn, nhưng giờ là tán che khổng lồ giúp Đội Nhất và các quân binh giấu mình dưới mắt nhìn của giặc. Những sợi dây rau muống biển dài và chắc, cánh lá sum suê, như cả tán rừng, che lên chiến hào, lên ụ đất, nhìn từ ngoài vào không thể biết được đó là công sự, đó là chiến tuyến phòng thủ. Lung lay trong gió nhẹ, những cánh hoa muống biển màu tím nhạt, lại điểm thêm chút nắng hồng chiều tà, đẹp đến ấm lòng.
Tổ Quốc là cát, là đá, là những con sóng trào vỗ bờ trắng xóa, bao quanh những hòn đảo nhỏ, nhìn thì cô đơn giữa muôn trùng biển, nhưng trên đảo là người, người Việt, là Đội Nhất, là anh em. Trên bầu trời đảo còn là những cánh hải âu chao liệng, ríu rít tiếng kêu, những cánh chim hải âu khi vụt bay cao, khi nghêng cánh sà xuống, cả những mẫu phân nhỏ bé của hải âu bay bay trong gió rồi rơi xuống cát, xuống đá, xuống cả đầu người cũng thuộc về Tổ Quốc.
Tổ Quốc là những giọt nước mắt của quân binh, thủy binh, của các cô gái, đêm đêm âm thầm khóc vì nhớ quê, nhớ nhà, nhớ bàn tay ấm áp của người mẹ, nhớ cái mùi khói thuốc của người cha, nhớ cả tiếng gà gáy vang vang trong những buổi chiều khói vương rơm rạ trên cánh đồng vào mùa gặt. Họ khóc vì nhớ. Mà nếu không biết khóc vì nhớ thì sẽ không biết khóc vì nhục. Đội Nhất vẫn nói với anh em, ai nhớ nhà cứ khóc đi, không sao cả. Tổ Quốc giản dị như những giọt nước mắt ấy thôi, nhưng đó là giọt nước mắt nhớ đất liền đến quặn lòng, đến tan tác, đến bàng hoàng, nhưng không phải là giọt nước mắt khóc vì nhục.
Tổ Quốc bắt đầu từ những mũi kim sợi chỉ, chị em trên đảo khâu vá quần áo cho anh em mình, đường kim mũi chỉ trên những bàn tay ngọc, phả hơi ấm trên những cơ thể cường tráng của các chàng trai, dồn cho họ niềm tin, tình thương yêu, sự chia sẻ. Đảo có đàn bà và đàn ông, có cả những bước chân mạnh mẽ gan góc giẫm trên cát, trên đá, trên sóng biển, lại có cả những dấu chân con gái, in nhè nhẹ như thêu, như vẽ trên cát, làm điệu làm dáng cho những hòn đảo vốn bao đời trơ trọi, cô đơn trên biển cả. Dấu chân con trai, con gái trên đảo cương giới cũng thuộc về Tổ Quốc.
Tổ Quốc là ánh nắng chiều nay, nắng chiều hoàng hôn, màu hồng tươi rói như màu cờ Đại Việt, cả bầu trời cứ ráng hồng lên như thế, lấp lánh, và những gương mặt của anh em thủy binh, dân binh, các cô gái trên đảo cũng đang rực lên trong màu hồng ấy, có khi màu hồng chuyển đậm như màu máu. Đội Nhất nghĩ tới trận chiến sắp xảy ra, ai còn, ai mất, và cát vàng kia sẽ nhuốm máu đỏ của anh em, nhưng ngay cả khi cát vàng ở đảo cháy đỏ màu máu của anh em, thì đảo vẫn thuộc về Tổ Quốc.
Tổ Quốc là mảnh ván khắc hai chữ ĐẠI VIỆT cắm sâu vào tim các đảo. Ánh nắng chiều hắt bóng cột mốc giới, đổ bóng dài vắt ngang trên đảo, bóng dài cột mốc im lìm hằn trên đảo, trong mắt nhìn, hằn vào trái tim của anh em một lời thề, lời thề không âm thanh, lời thề sâu thẳm, lời thề nặng trĩu, truyền đời này sang đời khác, trong máu, trong khí huyết, trong hơi thở.
Tổ Quốc là lá cờ mang chữ Quốc vương nước Việt, bay trong gió biển, là nơi anh em nhìn tới mà đứng thẳng, mà can trường, là dấu vết muôn đời của người Việt, là câu trả lời kiêu hãnh với thế giới, lá cờ còn, đảo còn, lá cờ màu máu, đi suốt ngàn năm, đi từ cương giới đất liền ra cương giới đảo, đến tay Đội Nhất và anh em, nhìn lá cờ tung bay như thấy vẹn nguyên và vĩnh hằng đất đai bờ cõi, rạng danh Tổ Quốc.

Advertisements

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: